
tác giả Minh Hằng
biên tập Tàn Nhang
Khi nói về châu thổ – “món quà của các dòng sông”, tác giả cuốn Thiên nhiên Việt Nam viết: “Đó là miền đất được giành giật từ biển do sức lao động bồi đắp cần cù và nhẫn nại của các dòng sông qua hàng triệu năm và được con người chinh phục cách đây hàng nghìn năm từ khi đang còn ngổn ngang những đầm lầy và lòng sông cũ (Lê Bá Thảo 2006 : 111).
Đồng bằng châu thổ Bắc Bộ được tạo thành bởi hai “nón phóng vật khổng lồ” của sông Hồng và sông Thái Bình. So với sông Hồng, sông Thái Bình nhỏ hơn nhiều, mặc dù đó là phần hạ lưu của các con sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam (từ vùng núi Việt Bắc đổ về và chập lại làm một) hợp thành. Trên nón phóng vật của mình, sông Hồng và sông Thái Bình chia ra thành nhiều sông nhánh; các sông nhánh này càng ra gần biển càng tỏa ra thành nhiều sông nhánh nhỏ hơn… Như sông Hồng, sau khi rời khỏi Sơn Tây (xưa) đã tách ra thành một nhánh quan trọng là sông Đáy, xuống địa đầu Hà Nội lại tách ra thành sông Đuống, đến Hưng Yên thì chia nước cho sông Luộc và sông Phủ Lý, xuống Nam Định – Thái Bình thì tỏa ra thành sông Trà Lý, sông Nam Định và sông Ninh Cơ. Mạng lưới của sông Thái Bình phía dưới Phả Lại còn phức tạp hơn do ảnh hưởng của thủy triều: ở Lau Khê, cách Phả Lại chừng 7km, thoạt đầu sông Thái Bình tách ra thành một nhánh là sông Kinh Thầy, sông này, đến lượt nó lại chia ra một nhánh khác ở Nghĩa Dương, tạo thành sông Kinh Môn, nhưng từ Hải Dương và Nghĩa Dương trở ra biển thì “mạng lưới sông nhánh đã dày và lộn xộn đến mức khó phân biệt được chúng bắt đầu từ đầu và bản thân chúng muốn chảy đi đầu trong cái miền “lưỡng thể” nửa đất nửa nước ấy… (Lê Bá Thảo 2006: 112).“
Số phận của đồng bằng châu thổ Bắc Bộ rõ ràng gắn liền với sông Hồng, con sông đã sinh ra châu thổ và hàng ngày hàng giờ ảnh hưởng đến sự phát triển của nó. Cũng như châu thổ Bắc Bộ, số phận của các lò gốm ở nửa phần phía bắc đất nước gắn liền với dòng chảy của các phụ lưu và chỉ lưu sông trong hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Hầu hết các lò gốm cổ vùng đồng bằng Bắc Bộ nảy sinh, tồn tại và phát triển lâu đời dựa trên hai yếu tố căn bản là vùng nguyên liệu và điều kiện giao thông, trong đó, giao thông đường thuỷ đóng vai trò chính trong suốt tiến trình lịch sử.

Chưa nói đến các sông nhánh, các con sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Cầu, sông Thương, sông Kinh Thầy, sông Thái Bình… từ xa xưa luôn là những huyết mạch giao thông chính trong sản xuất và giao lưu gốm. Đặc biệt, trong thời kì “đại thương mại Việt Nam” (thế kỉ XV-XVII), phương tiện vận chuyển chủ yếu (và có thể là duy nhất) để giao lưu buôn bán gốm với các nước ngoài phạm vi lãnh thổ vẫn là tàu và thuyền. Đó là cơ sở để hình thành con đường gốm sứ trên biển được các nhà khảo cổ học khám phá, phát hiện trong một, hai thập kỉ gần đây.
Sông Cầu, còn có tên là Như Nguyệt – một con sông quan trọng nhất trong hệ thống sông Thái Bình có chiều dài 290km, bắt nguồn từ tỉnh Bắc Kạn chảy qua Thái Nguyên, làm ranh giới giữa hai tỉnh Bắc Ninh – Bắc Giang. Gắn bó với sông Cẩu từ xa xưa có các lò Đương Xá, Vạn Yên, Quả Cảm… và sau này là các lỗ Thổ Hà, Phù Lãng. Các sản phẩm gốm sành của Thổ Hà, Phù Lãng đã theo thuyền buôn ngược lên thượng nguồn nhờ dòng sông Đuống, hoặc xuôi về hạ lưu theo dòng sông Luộc, hoặc đi về phía đông theo đường sông Thương, sông Lục Đầu…

Trong lịch sử phát triển nghề chế tác gốm, với đặc thù là nặng (nguyên liệu chế tác nặng, sản phẩm và nhiên liệu để đun đốt vừa nặng vừa cồng kềnh), sự tồn vong, thịnh suy của một làng gốm còn liên quan mật thiết tới phương tiện vận chuyển. Với giao thông thủy, người ta có thể dễ dàng vận chuyển khối lượng lớn mà giá thành không cao. Điều này lí giải tại sao các khu vực sản xuất gốm đều nằm kề sát bờ sông.
Ví dụ, các di chỉ gốm cổ như Trạm Điền, Xóm Hống nằm kề bên sông Thương; Bãi Trụ Thượng, Kiệt Đoài, làng Gốm nằm ở tả ngạn sông Kinh Thầy; còn di tích bến sông Ninh Xá lại nằm ngay bờ hữu ngạn sông Thái Bình… Các làng gốm vùng Bình Giang như Láo, Ngói, Cậy, Bá Thủy nằm ở hữu ngạn sông Kẻ Sặt; di chỉ Hợp Lễ nằm ở hữu ngạn sông Đò Đáy (một nhánh của sông Kẻ Sặt).
Nhiều ý kiến cho rằng, cả năm địa điểm sản xuất gốm ở huyện Bình Giang (Cậy, Bá Thủy, Hợp Lễ, Ngói, Láo) xưa có thể chỉ là một trung tâm sản xuất lớn bởi trên thực tế, trừ Hợp Lễ nằm bên hữu ngạn sông Đò Đáy, còn lại đều nằm san sát trên một dải hữu ngạn bờ sông Kẻ Sặt và chỉ cách nhau trên dưới 2km. Còn các khu lò gốm cổ ở Bắc Ninh như Đồng Đống (thuộc làng Láng), Đương Xá (xã Vạn An) đều được bố trí dọc theo bờ Ngũ Huyện Khê.
Là một phân lưu của sông Hồng, sông Đáy chảy gọn trong vùng đồng bằng Bắc Bộ với dòng chảy song song bên hữu ngạn hạ lưu sông Hồng, có chiều dài khoảng 240km cùng với phụ lưu (sông Nhuệ) chảy trên địa bàn các tỉnh Hà Nội, Hòa Bình, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Định. Đối với các làng gốm Quế, Vân Đình, sông Đáy không chỉ là phương tiện cung cấp nguyên, nhiên liệu và trao đổi, bán buôn sản phẩm trong suốt chiều dài tồn tại mà còn đóng vai trò buôn bán nối từ thời văn hóa Đông Sơn.


Một số nhà nghiên cứu khi tìm hiểu sự phân bố của các di tích văn hóa Đông Sơn đã “chứng thực” được con đường giao lưu trao đổi giữa các khu vực. Trên con đường từ vùng sông Mã ra sông Hồng, dòng sông Đáy trong thời văn hóa Đông Sơn đã giữ một vai trò quan trọng. Nó là tuyến giao thông chính khi vùng đồng bằng lúc này còn lầy lội, khó đi. Những hiện vật Đông Sơn trong các sưu tập từ trước năm 1945 và những di tích ở hai bên bờ sông trong các huyện Nho Quan, Kim Bảng, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Thanh Oai, Quốc Oai, Hoài Đức, Thạch Thất, Sơn Tây… chính là những chặng đường những tụ điểm của đầu mối giao lưu.

Khảo về sự khởi nguồn, khởi nghiệp của các làng gốm cổ đồng bằng sông Hồng, có thể nhận thấy, hiếm có làng nào không hình thành từ sông và sinh tồn nhờ sông. Nếu dòng chảy là nguyên nhân chính để nghề gốm hình thành và phát triển thì nó cũng là một trong những nguyên nhân để nghề gốm tàn lụi. Lấy ví dụ ở trường hợp làng Quan (xã Phì Mao, huyện Nam Thanh, Hải Dương), là nơi đã từng sản xuất đồ gốm kéo dài suốt bốn, năm thế kỉ. Khi con sông Quao bị lấp vào năm 1942 (do việc đắp đê sông Kinh Thầy) thì nghề làm gốm ở làng Quao dần mai một và “thương hiệu” gốm Quao hiện chỉ còn được ghi nhận trong sử sách.




Đến cuối thế kỉ XX, khi giao thông đường bộ phát triển và ngày càng chiếm ưu thế so với giao thông thủy thì đối với riêng nghề gốm, con sông vẫn là một bộ phận không thể tách rời trong lịch sử sinh thành của một địa danh gốm. Không chỉ giữ vai trò chính trong buôn bán gốm, các dòng sông còn giúp các làng gốm duy trì hoạt động do việc cung cấp nguyên liệu. Ở phần sau, khi tìm hiểu về vấn đề nguyên liệu, chúng ta được biết, một trong những nguyên nhân đầu tiến tạo tiền đề cho sự khởi nghiệp là vùng nguyên liệu tại chỗ; và chính nguyên liệu của một vùng đã quyết định đặc trưng sản phẩm, tính ổn định và sự hưng vong của một nghề. Sau này, trong quá trình hành nghiệp, khi nguồn nguyên liệu gần đã cạn kiệt, các làng gốm phải khai thác các vùng nguyên liệu xa rồi chuyên chở về bằng đường sông. Nghề gốm của các làng Bát Tràng, Kim Lan gắn bó với sông Hồng (Nhị Hà); Thổ Hà và Phủ Lãng chung nhau dòng sông Cầu, các làng Hương Canh, Hiển Lễ có sông Cà Lồ, còn Vân Đình và làng Quế sinh tồn bên bờ sông Đáy…

Như vậy, không chỉ là những đầu mối giao thông, là nơi cung cấp nguyên liệu cho sự “tác thành” của đất, nước và lửa, các dòng sông còn tạo nên sự kết nối giữa các vùng nghề ở hai chiều tồn tại là cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Dòng sông đã chuyên chở gốm đi khắp “hang cùng, ngõ hẻm” của đất nước và góp phần làm rạng danh tên tuổi các làng nghề gốm cổ. Đặc biệt, ở góc nhìn lịch sử, lòng sông còn là nơi chôn cất, lưu giữ những biến cố thăng trầm của nghề gốm và cổ vật của nghề. Việc kiến thiết các công trình hạ tầng như đường xe lửa, quốc lộ, kè vét lòng sông và kênh mương trong một vài thập kỉ gần đây khiến cho người ta đào được một số lượng lớn đồ gốm và nhiều di vật liên quan đến các khu lò nung cổ Việt Nam.
Trong thời kì hội nhập kinh tế và phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, công cuộc cải tạo các bờ sông, lòng sông sẽ đe doạ huỷ hoại các di chỉ gốm cổ. Điều quan trọng khẩn thiết là phải tiến hành điều tra, khảo sát sớm trước khi chúng bị xâm hại nặng nề bởi các công trình xây dựng này.