Agnes Denes

Điểm chung các dự án của Agnes Denes là đưa nghệ thuật rời khỏi tường trắng của bảo tàng để can thiệp trực tiếp vào địa hình, cảnh quan và nhịp sống đô thị

Agnes Denes, khoảng những năm 1980, đứng trước bản vẽ trong nghiên cứu về Kim tự tháp pha lê (50 x 50m, 160.000 khối kính) năm 1976. Chất liệu chì trên giấy, kích thước 34 x 53inch.

tổng hợp & biên tập
TÀN NHANG

Agnes Denes sinh năm 1931 tại Budapest. Tuổi thơ của bà đi qua chiến tranh, rồi gia đình di cư sang Thụy Điển trước khi sang Hoa Kỳ. Bước đầu đến với nghệ thuật bằng thơ ca và hội họa, Denes sớm mở rộng thực hành của mình theo hướng xuyên ngành: triết học, toán học, khoa học tự nhiên, ngôn ngữ học và sinh thái học cùng gặp nhau trong những hình ảnh, bản vẽ, mô hình và dự án ngoài trời.

Bà định cư và làm việc tại New York, vừa sáng tác, vừa giảng dạy, thuyết trình và xuất bản nhiều văn bản ghi chép. Từ cuối thập niên 1960, đầu 1970, Denes đã được nhắc đến như một trong những gương mặt tiên phong của nghệ thuật khái niệm, nghệ thuật đất đai và nghệ thuật sinh thái. Điểm chung của các dự án là đưa nghệ thuật rời khỏi tường trắng của bảo tàng để can thiệp trực tiếp vào địa hình, cảnh quan và nhịp sống đô thị.

Trong nhiều cuộc trò chuyện, Denes kể rằng việc rời xa tiếng mẹ đẻ buộc bà tìm một ngôn ngữ chung cho tư duy, và bà chọn nghệ thuật. Bà muốn tham dự vào đời sống một cách toàn diện, quan sát các quá trình của nó và chuyển chúng thành hình thức thị giác dễ hiểu. Cách làm việc ấy khiến studio của bà giống một phòng thí nghiệm mở, nơi những câu hỏi về trật tự, hỗn độn, giới hạn của con người và tương lai chung được thử nghiệm qua hình học, sơ đồ, phép chiếu, rồi kiểm chứng bằng các can thiệp ngoài thực địa.

Ở tuổi ngoài chín mươi, Denes vẫn làm việc đều đặn trong studio tại SoHo. Bà nhớ lại thuở ban đầu nói về sinh thái vào thập niên 1960, nhiều người còn bật cười. Vài chục năm trôi qua, những điều bà cảnh báo, từ khủng hoảng môi trường đến sức ép đô thị hóa đã trở thành chuyện thường ngày. Sự bền bỉ của Denes nằm ở chỗ bà không chỉ nói bằng tác phẩm treo tường, mà nói bằng đất, cây, hạt giống, bằng nhịp mùa và lao động chung.

Một cột mốc quan trọng của sự nghiệp là triển lãm hồi cố lớn “Agnes Denes: Absolutes and Intermediates” tại The Shed, New York, diễn ra giai đoạn 2019–2020. Hơn 150 tác phẩm cho thấy chiều rộng và chiều sâu của sáu thập kỷ làm việc: từ bản vẽ, in ấn, mô hình đến những dự án công cộng quy mô lớn. Triển lãm đặt cạnh nhau cánh đồng lúa, rừng trồng, kim tự tháp bằng đất với những bản vẽ hình học và sơ đồ ngôn ngữ, giúp người xem thấy rõ nghệ thuật của Denes như một bản đồ tri thức mở: ý niệm không đứng riêng, mà luôn gắn với hành động, với môi trường sống cụ thể.

Tác phẩm của Denes thường đề cập về việc vượt qua những giới hạn. Ý bà không phải phô trương kỹ thuật hay kích thước, mà muốn kéo dài năng lực nhận thức của con người, đưa cái nhìn vượt khỏi trước mắt để chạm tới đường chân trời của thời gian, chuyển từ thói quen tiêu dùng sang trách nhiệm với đất đai, nguồn lực và các thế hệ tương lai. Phương pháp của bà thường bắt đầu từ những câu hỏi về tồn tại, trật tự và hỗn độn, sau đó tìm kiếm ngôn ngữ thị giác tương ứng. Bởi vậy, trên giấy và trong không gian triển lãm, người ta bắt gặp sơ đồ, phép chiếu, lưới tọa độ, phương trình. Chúng không phải là trang trí mang hơi hướng khoa học mà là cách bà vật chất hóa tư duy.

Tại The Shed, nhóm tác phẩm về kim tự tháp xuất hiện như một trục ý niệm xuyên suốt, đi từ những hình khối cơ bản như khối cá, quả trứng cho tới các mô hình đề xuất cho cư trú tương lai khi khí hậu thay đổi, trong đó có cả thành phố dưới nước và ngoài không gian.

Wheatfield (1982). Ảnh: John McGrail.

Ảnh: Agnes Denes.

Ảnh: Agnes Denes.

Denes đem những yếu tố nguyên sơ như lúa, cây, đất vào trung tâm đô thị và bảo tồn chúng theo những khung thời gian đủ dài để tạo nhận thức mới. Cánh đồng lúa mì giữa Manhattan xuất hiện vào mùa xuân năm 1982 trên bãi đất đổ thải ở Battery Park, sát khu tài chính. Trong bốn tháng, nhóm cộng tác viên cùng bà rạch luống, gieo hạt, tưới nước, nhổ cỏ. Mùa thu hoạch mang về hơn một nghìn pound lúa, rơm tặng cho đội cảnh sát cưỡi ngựa của thành phố, hạt giống tiếp tục theo một triển lãm đi qua nhiều nơi trên thế giới. Hình ảnh cánh đồng vàng rực dưới phông nền nhà chọc trời nhanh chóng trở thành biểu tượng mạnh mẽ cho cuộc đối thoại giữa lương thực, bất động sản, tài chính và con người.

Nhiều bài viết sau này nhấn mạnh giá trị tiên tri của tác phẩm. Nó không phải đồng quê được mang vào phố để tạo cảm giác lãng mạn, mà là một phản biện rõ ràng về các ưu tiên đô thị, nơi giá trị đất đai và tốc độ tăng trưởng thường vượt lên trên an ninh lương thực, sức khỏe cộng đồng và công bằng sinh thái. Việc tác phẩm được tái diễn giải ở các bối cảnh khác cho thấy sức sống của ý niệm và khả năng đặt vấn đề vào tâm trí công chúng một lần nữa.

Trong triển lãm hồi cố nói trên, Wheatfield được giới thiệu bằng nhiều tư liệu, từ ảnh chụp cho tới bản đồ và ghi chép. Khi đọc chuỗi tài liệu này, ta thấy cánh đồng lúa mì không phải một cú làm choáng ngợp rồi biến mất. Nó nằm trong một chiến lược thực hành nhất quán, đưa những đề tài tưởng như ngoại vi của nghệ thuật vào trung tâm diễn ngôn đô thị và văn hóa thị giác, cụ thể là đất, giống, mùa và lao động chăm sóc.

Một dự án khác mở rộng cách nhìn đó là Tree Mountain, một khu rừng nhân tạo tại Ylöjärvi ở Phần Lan khởi động đầu thập niên 1990. Denes thiết kế rồi cùng mười một nghìn người trồng mười một nghìn cây thông trên một địa hình hình bầu dục lớn, theo cấu trúc hình học kết hợp tỷ lệ vàng và mô thức giống vỏ quả dứa.

Dự án được công bố tại hội nghị Trái đất năm 1992 và khánh thành năm 1996. Người trồng nhận chứng thư quyền giám hộ có thể truyền qua hai mươi thế hệ, còn toàn bộ khu vực được mô tả như một không gian được bảo hộ trong nhiều thế kỷ. Về mặt sinh thái, khu rừng có ý nghĩa phục hồi đất mỏ sỏi đã bị khai thác, góp phần hình thành nguồn nước ngầm sạch.

Trong các văn bản của chính Denes, dự án này được gọi là một kho thời gian sống, bởi phải cần khoảng bốn trăm năm để một hệ sinh thái khôi phục từ trạng thái suy kiệt thành một khu rừng gần như nguyên sinh. Từ phác đồ hình học trên giấy tới địa hình và thảm thực vật ngoài đời, tác phẩm chỉ ra khả năng của nghệ thuật trong việc thúc đẩy chính sách bảo tồn bằng sự tưởng tượng và bằng sức mạnh của cộng đồng.

Trưng bày mô hình tác phẩm Tree Mountain. Ảnh: Dan Bradica.
Kim tự tháp sống, 2015. Vườn điêu khắc Socrates, Long Island City, New York. Ảnh: Công viên điêu khắc Socrates.

Tại Socrates Sculpture Park ở Queens, New York, Living Pyramid xuất hiện lần đầu năm 2015 như một công trình bằng đất cao khoảng chín mét, trồng cỏ và hoa dại. Đó là một kiến trúc sống thay đổi theo mùa. Sau đó, công trình tiếp tục được tái tạo ở các nơi khác, thường đi kèm với các chương trình để công chúng trực tiếp tham gia trồng và chăm.

Về hình thức, nó đối thoại với loạt bản vẽ kim tự tháp, còn ở bình diện đô thị, nó vận hành như một cỗ máy sinh thái nhỏ cấy vào bờ sông, giữ lại một phần tự nhiên giữa khu dân cư đông đúc. Cách làm này cho thấy nghệ thuật công cộng không chỉ là điểm nhấn để nhìn, mà có thể trở thành hạ tầng mềm, nơi mọi người cùng làm và cùng chăm sóc.

Nếu các dự án ngoài trời là thân và rễ của thực hành, thì hệ bản vẽ và in ấn là các mao mạch nuôi dưỡng tư duy. Tại nhiều bảo tàng lớn, người xem gặp loạt phép chiếu địa cầu vào hình xoắn ốc hay các hệ tọa độ đẳng hướng. Những bản vẽ này không đơn thuần là tài liệu minh họa kỹ thuật, mà là những tiểu luận bằng đường nét và con số. Bản vẽ vì vậy không chỉ là phương tiện để thi công, mà còn là vật mang ý tưởng, là hạ tầng tri thức có khả năng di chuyển giữa nghệ thuật, khoa học và quy hoạch.

Nếu các dự án ngoài trời là thân và rễ của thực hành, thì hệ bản vẽ và in ấn là các mao mạch nuôi dưỡng tư duy. Tại nhiều bảo tàng lớn, người xem gặp loạt phép chiếu địa cầu vào hình xoắn ốc hay các hệ tọa độ đẳng hướng. Những bản vẽ này không đơn thuần là tài liệu minh họa kỹ thuật, mà là những tiểu luận bằng đường nét và con số. Bản vẽ vì vậy không chỉ là phương tiện để thi công, mà còn là vật mang ý tưởng, là hạ tầng tri thức có khả năng di chuyển giữa nghệ thuật, khoa học và quy hoạch.

Triển lãm hồi cố tại The Shed còn dành trọn một tầng cho các mô hình kim tự tháp và những đề xuất thành phố dành cho người tị nạn khí hậu. Có mô hình cư trú dưới nước, có mô hình ngoài không gian và nhiều cấu kiện hạ tầng sống kèm theo. Tính viễn tưởng ở đây không phải cách né tránh thực tại, mà giống như một dạng tư duy tiền chính sách. Nó mở ra miền có thể, để quy hoạch, kiến trúc và công nghệ có một trục tưởng tượng bám vào. Khi đặt Wheatfield, Tree Mountain và Living Pyramid cạnh nhau, triển lãm cho thấy một tam giác ý niệm gồm đồng ruộng, rừng và kim tự tháp sống. Ba hình thái này có thể cắm vào đô thị, vùng ven và các khu đất bị tổn thương, tạo nên một bộ công cụ đơn giản mà hiệu quả cho phục hồi sinh thái và xây dựng cộng đồng.

Từ những kinh nghiệm đó, bài học cho kiến trúc và đô thị khá rõ. Thời gian cần được xem như một thông số thiết kế. Khu rừng ở Phần Lan buộc ta nghĩ tới khung thời gian bốn trăm năm, Living Pyramid gợi những chu trình theo mùa, Wheatfield nhắc chu trình gieo và gặt ngay trong nhịp thở của thành phố. Khi thời gian trở thành chất liệu, công trình không còn đóng khung ở ngày khánh thành. Hình khối, quy chế sử dụng và cơ chế tham gia đều thay đổi theo quá trình. Kiến trúc có thể chuyển từ mục tiêu hoàn thiện sang mục tiêu vận hành, cân bằng vòng đời vật liệu với vòng đời sinh thái và xã hội.

Wheatfield (1982). Ảnh: John McGrail.

Một bài học khác là cộng đồng có thể trở thành hạ tầng. Wheatfield thành công không chỉ nhờ hình ảnh, mà nhờ lao động chung. Đào rãnh, gieo hạt, tưới nước, gặt hái, tặng rơm, các hành động đó biến những người xa lạ thành một cộng đồng tạm thời. Quy hoạch đô thị có thể học cách thiết kế những điểm nút lao động chung như vậy. Công viên, dải đất ven sông, sân mái nhà hoàn toàn có thể là nơi hạ tầng xanh không chỉ được trồng mà còn được chăm, nhờ đó cộng đồng gắn bó với nơi chốn bằng việc làm cụ thể chứ không chỉ bằng khẩu hiệu.

Từ góc nhìn chính sách, Tree Mountain cho thấy nghệ thuật có thể kích hoạt cơ chế bảo hộ pháp lý. Việc cấp chứng thư giám hộ cây cho hai mươi thế hệ vừa là thiết kế xã hội vừa là nghi thức ràng buộc đạo đức. Quy hoạch có thể đi cùng nghệ thuật để xây dựng những khế ước chăm sóc bằng các hình thức pháp lý mềm, bổ sung cho hệ quy chuẩn cứng vốn khó bao quát mọi trường hợp.

Nhìn rộng hơn, loạt bản vẽ về phép chiếu hay các hệ đẳng hướng nhắc rằng bản vẽ có thể trở thành một luận văn bằng hình ảnh. Khi các phép chiếu, tỷ lệ và lưới bước ra khỏi phạm vi kỹ thuật để trở thành ngôn ngữ của tư tưởng, ta thấy hình học ở Denes mang một chiều kích đạo đức. Nó sắp đặt lại mối quan hệ giữa con người với đất, nước và không khí, giúp người đọc hình dung một trật tự chung mới.

Bên cạnh những dự án đã thành hình, Denes còn đề xuất biến một bãi chôn lấp lớn tại Far Rockaway thành công viên trồng một trăm nghìn cây. Ý tưởng này tiếp tục dịch các nguyên tắc của khu rừng ở Phần Lan vào bối cảnh New York, hướng tới hấp thụ carbon, phục hồi sinh cảnh và mở thêm không gian công cộng cho cư dân. Qua đó có thể thấy thực hành của Denes luôn chuyển động giữa ý niệm, mô hình và triển khai, giữa tác phẩm nghệ thuật và đề xuất hạ tầng.

Tổng thể, Agnes Denes đã tạo nên một bản đồ của những khả thể, nơi tác phẩm không chỉ để ngắm mà còn vận hành như một hệ thống. Hệ sinh thái gồm đất, cây, lúa, nước ngầm được thiết kế như công trình. Cộng đồng được tổ chức thông qua các nghi thức lao động chung. Thời gian dài trở thành chất liệu sáng tác. Bản vẽ mở rộng thành hạ tầng tri thức liên ngành. Nhờ vậy, tác phẩm không bị giam trong phạm vi nghệ thuật mà đi vào quy hoạch, kiến trúc cảnh quan và chính sách môi trường.

Denes chứng minh rằng một thứ viễn tưởng nghiêm túc, khi đi cùng cam kết hạ tầng, có thể chuyển hóa thành hành động công dân. Sau hơn nửa thế kỷ, cánh đồng lúa ở Manhattan vẫn ở lại trong trí nhớ đô thị như một dấu mốc, khu rừng ở Phần Lan tiếp tục lớn lên, kim tự tháp sống vẫn mọc lại bên những bờ sông khác, còn chuỗi bản vẽ về kim tự tháp và phép chiếu vẫn tiếp tục đẩy trí tưởng tượng của chúng ta ra ngoài quỹ đạo quen thuộc. Từ một hạt giống gieo trên đất thải tới một rừng cây được giao phó cho nhiều thế hệ, hành trình của Agnes Denes gợi ý rằng tương lai của kiến trúc và đô thị rất có thể bắt đầu bằng những hành động nhỏ, kiên trì và có trách nhiệm với thời gian.