
thực hiện Michael Cukr
ảnh Jack Bool
nguồn Apartmento Magazine
Los Angeles: Không có gì ở Deaton Chris Anthony là “bình thường”. Cách anh ăn mặc, sự hiện diện trên mạng, hay việc anh xuất thân từ Kansas đều khiến người ta chú ý. Anh vừa xuất hiện trong một quảng cáo Super Bowl cùng Shania Twain, trước đó lại làm việc trong phòng thu với Ye. Âm nhạc của anh, thường được mô tả bằng nhiều thuật ngữ từ dance, pop, jungle đến drum and bass, dựa trên cảm giác hoài niệm mà nhiều nhà sản xuất đã theo đuổi suốt hàng thập kỷ. Nhưng việc cố gắng so sánh Deaton với ai đó chỉ làm lạc hướng – bởi anh đơn giản chỉ đang làm chính mình.
Âm nhạc đến với Deaton từ mẹ, còn niềm say mê máy tính đến từ cha. Hai nguồn ảnh hưởng này đã định hình cách anh tự học và bước vào nghề. Dựa vào những bản R&B mà anh đào sâu tìm nghe cùng các video hướng dẫn trên YouTube, Deaton tự mày mò cách tạo loop bằng chiếc máy tính từ thập niên 1980 có tên Amiga. Từ đó, anh chồng lớp những nhịp điệu lôi cuốn lên nền âm thanh thô ráp, trong trẻo kiểu Nintendo, rồi thêm vào phần nhịp trống và ca từ của chính mình. Dấu ấn pop độc đáo của anh dần len lỏi vào các ca khúc của Charli XCX và PinkPantheress, đồng thời hiện diện xuyên suốt bốn album riêng. Deaton không chỉ có tầm nhìn rõ ràng về thứ âm nhạc mình muốn làm, mà còn đủ kiên trì và kỹ năng để biến ý tưởng thành hiện thực. Trong suốt mười năm qua, anh đã xây dựng được thế giới âm nhạc riêng, theo đúng nghĩa đen.
Deaton Chris Anthony thực ra là một cái tên giả, một nhân vật mà chàng trai Kansas ấy tạo ra để thử nghiệm và bộc lộ sự sáng tạo. Anh tự xây dựng bản sắc nghệ sĩ từ những mảnh ký ức gia đình, từ tuổi thơ cô đơn cho đến chiếc CD Mariah Carey đầu tiên mà mẹ tặng. Khi chúng tôi trò chuyện, tôi cảm thấy như đang chứng kiến một cột mốc mới trong sự nghiệp của anh. Ở album mới nhất, cũng là album cuối cùng trong loạt dự án về lịch sử gia đình, Deaton không còn ẩn mình sau nhân vật nữa. Anh sẵn sàng chia sẻ sự thật, mời khán giả bước vào những câu chuyện cá nhân qua âm nhạc. Đây là lúc anh bước sang một giai đoạn khác, không còn là một vai diễn, mà là chính anh.


Hãy nghe ‘House Party Playlist’ được Deaton chọn lọc,
với các bản nhạc đã truyền cảm hứng cho âm nhạc của anh.
Nơi nào khởi nguồn cho hành trình âm nhạc của cậu? Cậu không đi theo con đường đào tạo truyền thống, đúng không?
Từ khi ba tuổi, tôi đã thường ngồi cạnh mẹ. Bà biết đọc nhạc và chơi trọn vẹn các bản nhạc. Tôi nhớ có lần hỏi bà: “Mẹ học piano thế nào vậy?” và bà chỉ trả lời: “Mẹ tự học.” Câu trả lời đó theo tôi suốt đời.
Cậu lớn lên ở đâu?
Tôi lớn lên ở một thị trấn nhỏ thuộc bang Kansas. Nơi đó có phòng khám nha khoa, một công viên, và những người quen thuộc như thầy John Doe ở trường. Tôi vẫn thường ghé cửa hàng tạp hóa, gặp nhân viên thu ngân quen mặt, mua vài hộp Lunchables hay gì đó. Nhưng điều quan trọng là, tôi đã theo đuổi sự sáng tạo khi ở dưới tầng hầm nhà cha mẹ, trong một con đường cụt chẳng có gì xảy ra. Chính sự yên tĩnh đó khiến trí tưởng tượng của tôi tự do chạy khắp nơi. Tôi vẫn ước mình có thể trở lại trạng thái đó, vì lúc ấy thế giới như mở ra trước mắt.
Cậu nghĩ đó là do tuổi tác?
Tôi nghĩ đó là nhờ bối cảnh thời gian. Đó là giai đoạn 2013–2014, khi Tumblr còn rất sôi động. Trước đó, tôi chỉ nghe nhạc của cha mẹ. Nhưng đến cuối những năm trung học, tôi bắt đầu nghĩ: “Khoan đã, mình nên tìm thứ nhạc mình thật sự thích.” Và rồi tôi gặp Vaporwave. Tôi nghe nhạc, lướt Tumblr, để âm nhạc hòa vào những hình ảnh trước mắt. Tumblr lúc đó như một kho thông tin mở rộng.

Bố cậu có chơi nhạc không?
Bố tôi thì lại là người của máy tính. Trong nhà luôn có những chiếc máy chơi game đời đầu, nhiều loại máy tính khác nhau. Ông là kỹ sư, tôi nhớ hồi nhỏ ông có đến ba bàn làm việc, lúc nào cũng có dự án đang dở. Giờ thì ông có cả chục máy in 3D và vẫn luôn bận rộn chế tạo. Tôi nghĩ mình nhận được phần não kỹ thuật từ bố, còn mẹ là người làm nhạc và sáng tạo theo cách truyền thống. Tôi giống như thừa hưởng cả hai thế giới.
Ở Kansas có ai khiến cậu ngưỡng mộ, như một tấm gương để theo đuổi không?
Tôi bắt đầu làm nhạc năm 2013, khi Vaporwave đang rất phổ biến trên internet, chủ yếu qua Bandcamp và SoundCloud. Tôi say mê dòng nhạc này, nó như một điểm khởi đầu hợp lý vì hoàn toàn dựa trên việc dùng mẫu. Chỉ cần lấy những bản R&B cũ, làm chậm lại rồi thêm chút vang.
Khi đó, tôi tình cờ biết đến 18 Carat Affair. Nhạc của anh ấy xuất hiện nhiều trong các video trượt ván Bronze56K, và tôi thấy cực kỳ ấn tượng. Tôi lên SoundCloud của anh ấy và phát hiện anh đến từ Kansas, chỉ cách nhà tôi chừng mười phút. Tôi nhắn tin cho anh, gọi anh là huyền thoại thực thụ. Chúng tôi gặp nhau, và đó chính là buổi thu đầu tiên trong đời tôi. Chúng tôi vào một căn lều nhỏ ở sân sau nhà anh, tôi mang theo tất cả những mẫu mình có, còn anh có máy băng và vài sampler. Hai người phối hợp ăn ý. Album đầu tiên của tôi có anh góp mặt, và đó trở thành bước khởi đầu quan trọng cho sự nghiệp. Sau đó tôi chuyển đến Los Angeles, và từ đó mọi thứ mở ra thêm nhiều cơ hội.

Cậu hiểu nhịp điệu như thế nào?
Thật ra, tôi nghĩ nhịp điệu đến với tôi từ những video trượt ván. Khi còn nhỏ, tôi không biết gì về chỉnh sửa, nên cứ nghĩ họ tìm ra bản nhạc hoàn hảo cho video vì mỗi cú đáp ván đều rơi đúng nhịp. Tôi bị cuốn hút bởi điều đó. Khi tự mình bắt đầu cắt dựng phim trượt ván, tôi nhận ra sự ăn khớp: tiếng gõ, cú trick, vào grind, rồi đáp xuống – giống như tiếng fill trống hay hi-hat. Đó là lúc tôi bắt đầu hiểu thế nào là nhịp trong một track.
Cậu có nhớ video đầu tiên khiến cậu thật sự chú ý đến nhạc không?
Tôi nghĩ là Shorty’s Guilty. Tôi cũng nhớ phần của Dustin Dollin trong Baker 3, khi anh ấy trượt ván với nhạc của Children of Bodom. Đó chính là cú hích để tôi muốn làm phim. Ban đầu, đam mê của tôi là trượt ván, nhưng nhạc trong những thước phim ấy khiến tôi nhận ra mình thực sự muốn làm nhạc. Làm nhạc là thứ tôi yêu.
Cho tôi tóm tắt về một số loại synth cậu thường dùng trong nhạc của mình.
Âm thanh thập niên 80 đặc trưng nhờ cây DX7. Cậu có thể khiến nó nghe như saxophone, giọng hát hay tiếng trống, nhưng nó không bao giờ giống thật. Chính cái chất giả lập ấy lại làm nên thứ âm thanh quen thuộc của những năm 80, và tôi thấy nó thú vị để khai thác.
Tại sao cậu chọn thiết bị này để làm nhạc?
Tôi nhớ lúc mới bắt đầu, tôi không biết làm thế nào để đưa âm thanh vào máy tính. Tôi tự hỏi, có phải cắm dây cáp vào đâu đó không… Tôi hoàn toàn không hiểu, nên cuối cùng tôi học cách sample. Tôi nghĩ, mình có thể lấy một đoạn nhạc đã có sẵn, rồi chỉnh cao độ hoặc đảo ngược nó. Sau đó tôi nhận ra hầu hết những bản nhạc tôi yêu thích đều dựa trên sample, nên tôi thấy đó chính là cách của mình.
Khi chuyển đến Los Angeles, nhiều người hỏi tôi: “Làm sao cậu có được âm thanh đó trong track? Cái snare đó ở đâu ra?” Tôi trả lời: “Đó là sample.” Họ lại hỏi: “Sample gì, máy trống à?” Tôi nói: “Không, toàn bộ đoạn đó là một sample.” Tôi nhớ lúc đó nhiều người tỏ ra thất vọng, khiến tôi cảm thấy mình không được coi trọng như một nhạc sĩ. Nhưng tôi nghĩ, miễn là nó nghe ổn và tạo thành một ca khúc hay, vậy là đủ.
Có phải có một bước ngoặt khi cậu bắt đầu tự làm sample của riêng mình?
Đúng vậy. Tôi nhận ra những đoạn nhạc tôi yêu thích đều được tạo từ thiết bị cụ thể, nên trước tiên tôi phải học đó là thiết bị gì. Tôi tìm ra âm thanh đó thực ra là patch 37 trên D-50, và tôi có thể tái tạo lại y hệt. Đó chính là bước khởi đầu. Tôi tìm các bản R&B cũ, mổ xẻ âm thanh, hoặc lục các diễn đàn để xem patch harmonica nào đã được dùng. Sau đó, tôi lấy DX7, tìm đúng patch và bắt đầu dựng lại sample. Rồi dần dần, việc tự tìm ra âm thanh của riêng mình trở nên hấp dẫn hơn nhiều.

Cậu nhắc đến R&B giai đoạn đầu. Có thể cho vài ví dụ không? Chúng ta đang nói về thời kỳ nào?
Có lẽ là khoảng 1986 đến 1989. Đó là nơi tôi bắt đầu. Âm thanh rất sắc, nhiều kỹ thuật số, và gần như mất hết sự ấm áp.
Một ca khúc tiêu biểu cho thứ âm thanh đó là gì?
Tôi từng tìm thấy một blog tên The Isle of Deserted Popstars. Đúng như tên gọi, đó là một người sưu tầm các ca khúc one-hit wonder của thập niên 80. Rất nhiều sample tôi thử nghiệm đến từ những nghệ sĩ R&B ít được biết đến trong giai đoạn ấy. Ngoài Mariah Carey, tôi nghĩ ngôi sao dẫn đường của tôi là Millie Scott. Bà ấy có album Love Me Right, và phần sản xuất rất đặc trưng của thập niên 80. Tôi đã theo đuổi âm thanh đó nhiều năm, cố tìm cho ra chính xác máy trống nào được dùng. Tôi thậm chí còn lên Discogs để tra tên kỹ sư, rồi tìm họ trên Facebook, nhắn tin hỏi thẳng: “Anh dùng máy trống gì trong Love Me Right?”
Cậu có nhớ ca khúc nào đầu tiên khiến cậu nghĩ, đây chính là nhạc của Deaton Chris Anthony?
Tôi nghĩ đó là Wi-Fi Or Wifey. Nó đánh dấu thời điểm tôi nhận ra mình đã tìm thấy con đường riêng.

Mục tiêu của cậu khi làm một đĩa DCA là gì?
Tôi muốn kể chuyện bằng âm thanh. Điều tôi thích nhất là biến một album thành một cốt truyện. Giống như phim, có đoạn chậm, có đoạn cao trào, có xung đột. Với tôi, một đĩa nhạc cũng vậy: đi từ thứ tươi sáng, vui vẻ sang thứ tối tăm. Cậu không thể làm nhạc ngọt ngào nếu nó không được đặt trong bối cảnh đối lập. Ở tất cả album của tôi, tôi thích tạo ra nhạc nhiều màu sắc, dễ nghe, nhưng tôi còn hứng thú hơn khi làm những bản nhạc u ám.
Lần đầu tiên cậu sản xuất cho người khác là khi nào?
Tôi từng làm vài track cho Charli XCX trong album Crash. Đó là trải nghiệm rất đặc biệt.
Cơ duyên đó đến như thế nào?
Cô ấy nhắn cho tôi, nói muốn làm một album gợi nhớ Janet Jackson. Khi ấy, tôi vừa phát hành một đĩa mang âm hưởng đó. Cô ấy đến nhà tôi, chúng tôi làm một buổi session, rồi sau đó cô ấy mời tôi lên căn nhà trên đồi và chúng tôi làm việc liên tục ba, bốn ngày. Rồi dịch Covid ập đến, tôi nghĩ chắc dự án bị hủy. Một năm rưỡi sau, tôi bất ngờ nhận tin nhắn: “Bài hát đã xong rồi, Caroline Polachek và Christine and the Queens cũng tham gia.” Tôi hoàn toàn bất ngờ. Đó là track đầu tiên tôi vừa viết vừa sản xuất, và nó trở thành một cột mốc quan trọng với tôi.

Kể tôi về Amiga. Tôi nhớ lần đến studio của cậu nhiều năm trước, cậu cho tôi xem, và tôi rất ấn tượng.
Trước khi Windows và Mac thống trị, Amiga từng là đỉnh cao. Đó là chiếc máy tính mà nhiều người dùng để khai sinh ra các thể loại nhạc như drum and bass, jungle và nhiều dòng dance khác. Tôi vốn là fan của dòng nhạc dance đó, và tôi muốn tìm một cách nguyên bản nhất để làm jungle rave theo phong cách ban đầu.
Cậu tìm thấy Amiga và đưa sample của mình vào đó như thế nào?
Tôi có Amiga vì một bức ảnh cũ của bố. Trong ảnh, ông mặc áo da, đeo kính speeder – kiểu dáng những năm 90. Ông thường kể tôi nghe về thời gian đi club ở Thụy Điển, nơi ông sinh ra. Âm nhạc dance như ở trong máu tôi, vì bố từng sống như vậy. Nhưng tôi lớn lên ở Kansas, không có chỗ nào để nghe dòng nhạc đó, nên tôi chỉ có thể mơ về nó.
Âm thanh từ Amiga rất đặc trưng của thập niên 80. Nó giống như những tiếng bleep trong trò Mario đầu tiên, khi nhân vật nhảy. Máy có những cartridge cắm phía sau, cho phép sample audio. Tín hiệu chạy qua chip và linh kiện của Amiga, khiến âm thanh méo mó, thô ráp, nhưng lại có sức hút riêng. Giờ đây nhiều người vẫn cố gắng tái tạo chút noise và crunch đó, nhưng có bản gốc thì vẫn khác. Quá trình làm nhạc trên Amiga cũng rất hạn chế, và chính vì vậy tôi thấy mình tạo ra nhạc dễ hiểu hơn. Tôi không có nhiều lựa chọn để phức tạp hóa. Hầu như mọi bài hát tôi bắt đầu đều được làm trên Amiga.
Cậu chắc chắn không đi theo con đường rõ ràng để làm nhạc.
Nó không phải con đường dễ. Thay vì ngồi trước piano và học scale, tôi học cách gõ lệnh trên Amiga. Khi đến session, tôi mang theo Amiga. Người khác mang guitar, tôi mang cái này. Cuối cùng, tất cả đều làm nhạc. Có lẽ thách thức lớn nhất khi làm nhạc sĩ là biết mình có điều gì đó để nói, có thứ để đóng góp, nhưng lại không đi theo lối truyền thống.
Cậu có thể kể thêm về bố không? Ông ấy làm thế nào từ Thụy Điển lại đến Kansas?
Đó là câu chuyện dài. Bố tôi muốn đi trao đổi sinh viên. Ông lớn lên ở một trang trại nhỏ ở Thụy Điển. Khi được hỏi muốn đến đâu, ông nói: “Gửi con đến nơi có tuyết vì con thích trượt tuyết.” Thế là ông được gửi sang Utah, nơi mẹ tôi lớn lên. Họ gặp nhau hồi trung học và yêu nhau.
Bố tặng mẹ nhẫn trước khi phải quay về Thụy Điển vì hết hạn visa. Sau đó, mẹ tôi và bà ngoại xảy ra tranh cãi. Cuối cùng, bà buộc mẹ tôi trả lại nhẫn và viết thư: “Con không muốn nói chuyện với anh nữa. Và nhân tiện, con đang mang thai con của anh.”
Chờ đã, mẹ cậu miễn cưỡng viết bức thư đó?
Đúng vậy, bà miễn cưỡng làm thế, chỉ để bà ngoại buông tha. Thế rồi mẹ sinh anh trai tôi khi vẫn còn học trung học.
Anh trai cậu lớn hơn bao nhiêu tuổi?
Anh lớn hơn tôi tám tuổi. Trong năm năm, bố sống ở Thụy Điển. Đó là lúc ông đi club, ở độ tuổi ngoài hai mươi. Tôi không biết chi tiết, nhưng chắc là house những năm 80, chứ không phải jungle. Mẹ tôi sau đó viết thư cho bố: “Anh ở đâu?” Bố trả lời: “Em bảo không được liên lạc.” Mẹ nói: “Em muốn gặp anh.” Bố đáp: “Đúng lúc, vì anh sắp sang Mỹ thăm chú, nên có thể gặp em và con.”
Trước chuyến đi đó, bố gặp một tai nạn xe nghiêm trọng, lăn xe ba vòng nhưng thoát chết. Ông coi đó là dấu hiệu rằng mình phải trở lại với gia đình. Thế là ông bay thẳng đến gặp mẹ tôi và anh trai tôi lần đầu.
Thật khó tin.
Ba tháng sau họ kết hôn, và đến giờ vẫn ở bên nhau. Vài năm sau, họ có tôi.




Đó thật sự là một câu chuyện lớn.
Tôi biết. Và chính vì thế mà tôi bắt đầu Deaton Chris Anthony vào năm 2015. Ý tưởng là tôi dành 10 năm xây dựng thế giới này rồi dần hé lộ nó. Đây là lần đầu tiên tôi chia sẻ. Cuộc trò chuyện này là lần đầu tôi kéo tấm màn lại và cho thấy ý định thật sự phía sau mọi việc tôi làm.
Khi cậu nói “kéo màn lại”, ý cậu là gì?
Chỉ đơn giản là Deaton Chris Anthony. Khi đến Los Angeles, tôi đặt cho mình một cái tên mới, một bản sắc mới. Tôi sáng tác, phát hành nhạc dưới nhân vật đó. Hầu hết mọi người nghĩ tôi thật sự tên là Deaton, nhưng thực ra thế giới Deaton còn có cả gia đình tôi. Tôi tạo ra bốn nhân vật: Deaton, Angela, Korbin và Bobby.
Deaton là mẹ tôi, một người luôn khao khát làm nhạc R&B. Album đầu tiên BB tôi dành cho bà. Tên viết tắt của tôi là ANGL, vì vậy Angela chính là nhân vật đại diện cho tôi, gắn với album BO Y. Korbin là anh trai lớn, người từng đắm chìm trong emo, và SID THE KID là lời tri ân của tôi cho anh ấy. Bobby là bố tôi, được hình dung như một người ngoài hành tinh rơi vào phòng Deaton và khởi động một rave – đó chính là album mới tôi sắp phát hành. Toàn bộ thời gian qua, tôi cơ bản đã xây dựng các nhân vật này dựa trên gia đình, như một câu chuyện trưởng thành.
Ý tôi là, ngay cả tôi cũng quen gọi cậu là Deaton.
Nó cũng là tôi. Tên thật tôi là Andrew, nhưng tôi cũng là Deaton Chris Anthony. Tôi nghĩ đã đến lúc để mọi người biết rõ gốc rễ của mọi thứ, vì nó không hề ngẫu nhiên. Có cả một lớp truyện nền ở đó. Tôi đã dành cả đời để kể câu chuyện trừu tượng về gia đình mình, vì nó quá quan trọng với tôi.
Cậu vừa đưa tôi đi một hành trình thực sự.
Tất cả vẫn quay lại với câu chuyện của Deaton và những gì tôi muốn thể hiện. Như tôi nói, album tôi đang làm là dành cho Bobby, nhạc rave mà tôi yêu thích, và nó phản chiếu thẩm mỹ của bố tôi. Nó khép lại toàn bộ câu chuyện về gia đình. Tôi tạo ra một ngôn ngữ để làm rõ những gì thường bị bỏ qua. Tôi phải trở thành Deaton Chris Anthony để khám phá Andrew Nicholas Georg Lovgren là ai.








