Gốm truyền thống của người Việt

Mảnh gốm cách nay khoảng 3000 năm.
Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

tác giả Vũ Từ Trang
ảnh từ các Viện Bảo tàng ở Việt Nam
sưu tầm Giáng Hương

Gốm là một trong những phát minh quan trọng của tổ tiên ta từ ngàn đời nay, đồ gốm đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của nhân dân ta. Với trí sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo của người thợ gốm, gốm cổ Việt Nam đã trở thành một loại hình nghệ thuật mang tính dân gian sâu sắc.

Gốm cổ truyền Việt Nam đã có cách đây sáu, bảy ngàn năm. Gốm xuất hiện trong những di chỉ thuộc văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Hạ Long… Rồi ta thấy trong di chỉ thuộc hậu kỳ đồ đá mới Phùng Nguyên, giai đoạn Đồng Đậu, giai đoạn Gò Mun… Đồ gốm cổ truyền nước ta đã có những bước phát triển cao và hết sức phong phú.

Trong truyền thuyết, sự xuất hiện của đồ gốm, đồ sứ như một điều bí hiểm, linh thiêng. “Đồ gốm, sứ là loại chất bột nằm sâu trong lòng đất, ở những nơi linh thiêng có ma quỷ canh giữ. Muốn khai thác được phải chọn ngày lành tháng tốt. Lên tới mặt đất, nhờ ánh sáng chói lọi của mặt trời soi dọi chất bột đó mới biến thành gốm, sứ…” Thực ra đó chỉ là truyền thuyết ly kỳ để tăng phần quan trọng của kĩ nghệ gốm, sứ xa xưa. Thực chất hàng gốm, sứ ra đời nhờ đôi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của người thợ thủ công.

Trong giai đoạn Phùng Nguyên, kĩ thuật tạo chế đồ đá đã đạt đến trình độ cực thịnh. Những chiếc rìu, vồ, đục… quy mô to nhỏ khác nhau, được chế tạo bằng cách mài, của khoan, rất hoàn thiện. Những vòng tay, hoa tai, hạt chuỗi… bằng đá được trau chuốt, tiện, gọt tinh vi. Những loại hình đồ gốm nồi, bát, cốc, vò… có hình dáng đẹp, chắc, khỏe, phần nhiều đã được chế tạo từ bàn tay. Mặt ngoài đồ gốm phủ đầy hoa văn trang trí với những đường vạch sắc sảo những nét cong uyển chuyển, mềm mại, được phối trí đối xứng và hài hòa. Đó là một biểu hiện về óc thẩm mỹ khá cao của người Việt Nam lúc bấy giờ…

Lịch sử Việt Nam, tập 1 (NXB. Khoa học xã hội, 1971)

(1) Nồi gốm Phùng Nguyên, kỹ thuật miết láng và hoa văn kiểu đối xứng trục quay bậc 2. Nguồn: Sách “Văn hóa Phùng Nguyên” – Hán Văn Khẩn, NXB Đại học quốc gia Hà Nội – 2005.
(2) Đồ gốm văn hóa Đồng Đậu.
(3) Đồ gốm văn hóa Gò Mun.

Nguồn (2+3): Bảo tàng lịch sử quốc gia. Nhà nghiên cứu TS.Bùi Thị Thu Phương

Vậy là kĩ nghệ gốm giai đoạn Phùng Nguyên (cách đây gần 4.000 năm) ở nước ta đã phát triển mạnh. Con người buổi đó đã biết nghĩ ra bàn xoay và chế tạo ra thứ men để phủ ngoài, tăng thêm vẻ đẹp kỳ diệu của đồ gốm.

Đó là một thời kỳ của nước Văn Lang. Cho tới thời Âu Lạc, kĩ nghệ gốm đã phát triển mạnh lắm. Nghề nung gạch, làm ngói… cũng đã có từ ngày này.

Phải nói thời cực thịnh của gốm sứ là thời kỳ Lý – Trần (thế kỷ XI-XIV). Đó là những năm đất nước phồn thịnh, kinh tế mạnh mẽ, quân sự vững mạnh, văn hóa phát triển, đất nước an bình, mọi kĩ nghệ được khuyến khích phát đạt.

Nghề gốm, xem ra phát triển rải rác khắp đất nước. Ở tỉnh nào cũng có những vùng làm nghề gốm. Cứ ven các dòng sông, chúng ta gặp nhiều mảnh sành, mảnh gốm còn vương sót lại. Hoặc chúng ta gặp những dãy lò gốm đang ăn khói nghi ngút. Những trung tâm sứ gốm ở nước ta, xuất hiện từ thời Lý – Trần mà đến nay vẫn còn hưng thịnh nghề nghiệp, đó là Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà (Bắc Giang), Phù Lãng (Bắc Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Quế Quyển (Hà Nam Ninh cũ), Chum Thanh (Thanh Hóa)… Mỗi vùng quê gốm lại giữ kĩ nghệ riêng biệt. Và mỗi nơi, lại có mặt hàng gốm đặc trưng của mình, tạo thêm cái đa dạng và phong phú của công nghệ gốm Việt Nam. Nếu nói trung tâm gốm ở nước ta, phải nói: Bát Tràng – Thổ Hà – Hương Canh. Một đặc điểm riêng biệt và rõ nét nhất của nghề gốm là đều phát triển dọc sát các triền sông. Bởi lẽ, nó tiện đường chuyên chở và đất sét dọc các triền sông là thứ nguyên liệu quý để sản xuất gốm, sứ.

Theo tài liệu giới thiệu Lịch sử nghề gốm ở Thổ Hà của Ty Văn hóa Hà Bắc, và tài liệu Tìm hiểu nghề gốm ở Bát Tràng, tư liệu đánh máy của Viện Mĩ thuật, năm 1964, cho biết: Vào khoảng thời Lý – Trần có người đỗ Thái học sinh (đặc biệt chức Thái học sinh thì mới có từ thời Trần) được cử đi sứ nhà Tống (Trung Quốc) là: Hứa Vĩnh Kiều, người làng Bồ Bát (Thanh Hóa), Đào Trí Tiến, người làng Thổ Hà (Bắc Giang), Lưu Phong Tú người làng Kẻ Sặt (Hải Dương). Cả ba ông này, khi đi sứ đã học được nghề gốm sứ. Khi về nước, ba ông chọn ngày lành tháng tốt lập đàn ở bên sông Hồng làm lễ truyền nghề cho dân làng. Công nghệ có được phân như sau: Ông Kiều về Bồ Bát, ông Tiến về Thổ Hà, ông Tú về Phù Lãng. Làng Bồ Bát chuyên chế các hàng gốm sắc trắng. Làng Thổ Hà chuyên chế các hàng gốm sắc đỏ. Làng Phù Lãng chuyên chế các hàng gốm sắc vàng, thẫm.

Nửa năm sau nghiên cứu, chế tạo thành công, ba ông lấy các đồ gốm do tay mình chế được, dâng vua xem. Nhà vua thấy sản vật đẹp, liền khen thưởng các quan sứ thần bốn chữ “Trung Ái Quán Thế” và phong cho ba ông danh “Khởi nghệ tiên triết”. Tục truyền, dịp này, dân làng ở ba nơi đều tế lễ sầm uất và linh đình. Sau dâng ba tuần rượu, dân chúng nhảy nhót hoan hô để biểu dương các ngài đem nghề về truyền cho dân. Sau khi ba ông này mất, dân chúng ba nơi đều tôn ba ông đó là “Tổ sư”, tức “Tổ ổ nghề”.

Phường gốm Bồ Bát sau có rời ra ngoài Bắc. Dọc theo con sông Hồng, tới một bãi sông có đất thó trắng, họ dừng lại lập lò gốm ở đó, với tên gọi Bạch Phường thổ sau này, đổi là Bát Tràng phường. Và ngày nay, ta quen gọi là Bát Tràng.

Đồ gốm thời Lý – Trần phát triển mạnh, nhiều ở số lượng và quý ở chất lượng. Thịnh hành hai loại gốm chính, là: Gốm trang trí kiến trúc thường là đất nung để mộc, hoặc phủ một  lớp men có giá trị độc đáo. Ví dụ như gạch có in hoa văn để trang trí với nhiều dáng hình, kích thước khác nhau. Hoặc ngói bò có gắn đầu phượng, đầu rồng. Hoặc hình gốm trang trí tức hình chiếc lá nhọn đầu dể gắn trên nóc hoặc riềm nhà… Còn như gốm gia dụng, thì đủ thể loại. Nào bát đĩa, ấm, âu, chén, vại, chum, vò…

Đồ gốm thời kỳ này, ngoài ý nghĩa sử dụng trong nước, còn được xuất đi nhiều nước khác.

Lịch sử từng ghi lại, từ đầu nhà Lý đã có nhiều nước tới buôn bán, trao đổi hàng hóa với nước ta như Nam Dương, Xiêm La (Thái Lan)… Tới thế kỷ XII, các thuyền buồm ngoại quốc cập bến nước ta càng đông. Năm 1149, triều Lý cho lập cảng Vân Đồn, để thuyền bè các nước vào ra buôn bán. Cho tới nay, dọc hai bên bờ bến cảng Vân Đồn còn lại nhiều mảnh gốm của nhiều thời đại ở Việt Nam sản xuất. Trong đó, có cả mảnh gốm men ngọc của thời Lý. Vậy, đó chẳng là dấu tích để khẳng định hàng gốm của ta từ xưa đã đạt trình độ cao đó sao?

Ở nước ta, có thời người dân cứ sính đồ ngoại. Ví dụ: Mặt hàng gốm men ngọc thời Lý của chính nước ta làm ra thì gọi là “gốm Tống” hoặc “đồ Tống”. Hiện tại, ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam, còn lưu giữ được nhiều đồ gốm, đồ sứ các thời đại của nước ta. Đó là những dấu tích để chứng minh kĩ nghệ phẩm ở nước ta sớm phát triển, và từ xưa, nghề gốm ở nước ta đã chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế, văn hóa của dân tộc. Qua đây, chúng ta càng thêm yêu quý đôi bàn tay khéo léo và bộ óc giàu sáng tạo của những người thợ gốm Việt Nam. Để hiểu sâu thêm về nghề gốm, chúng tôi muốn giới thiệu một đôi nét về các kiểu lò gốm và men gốm từ xưa ở nước ta.

Trong lần khai quật lần thứ 7 tại lò gốm Chu Đậu (Hải Dương) các nhà khoa học của Trung tâm Nghiên cứu kinh thành đã lần đầu tiên tìm ra diện mạo đầy đủ của lò gốm và kỹ thuật sản xuất tại đây. Trong ảnh, PGS Bùi Minh Trí đang giải thích tại hiện trường về kỹ thuật nung đơn chiếc của lò gốm Chu Đậu. Ảnh: Quỳnh Trang. 

LÒ GỐM XA XƯA

Thực xa, nguyên lý của lò gốm xưa và nay không khác nhau nhiều lắm. Nó vẫn dựa trên nguyên lý cơ bản, cấu tạo gồm 3 phần: bầu lò, thân lò, hệ thống ống khói. Chỉ có điều, lò gốm ngày xưa thì nhỏ bé và đơn giản.

Sự phân chia công dụng của mỗi loại lò, nên đã có tên gọi riêng cho lò gốm: lò quan và lò dân. Sản phẩm lò quan yếu phục vụ cung đình và giao bang quốc tế. Còn sản phẩm lò dân là những vật dụng thông thường cho con người sinh hoạt hàng ngày như: cốc, bát, ấm, vò, lọ, chum, vại… theo lệ thường, sản phẩm ở lò quan bao giờ cũng được đầu tư kĩ thuật cao hơn ở lò dân.

Theo tài liệu của ông Đỗ Văn Ninh (Viện Khảo cổ) về việc khai quật khu lò nung gốm sứ ở Bút Tháp (Thuận Thành) cho thấy: Khu lò nung gốm sứ này gồm 4 lò với cấu trúc kiểu lò tương tự giống nhau. Toàn bộ lò nhìn ngoài có hình quả dưa, giữa phình rộng, hai đầu cụt. Kích thước đo được ở một lò có hình thức bề thế và to lớn hơn ba lò kia, cho thấy: chiều dài 3,35m, chiều rộng nhất gần 2m. Như thế, quy mô của lò nung thời đó thường nhỏ gon.

Điểm đáng chú ý là các lò gốm, hầu hết dùng nhiên liệu đốt bằng tre, gỗ; nhiên liệu than chưa dùng vào thời kỳ này. Qua đây, nó thể hiện tiêu chuẩn kĩ thuật nung thời đó và ý thức tự lực tự cường, nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương rất cao.

Phần khác, thấy rằng, cấu trúc lò rất đơn giản và sáng tạo; thợ đắp lò thời xưa chỉ dùng đất sét mà đắp chứ chưa phải dùng tới gạch chịu lửa để cuốn bầu lò và thân lò. Trong khi đó, ở Trung Quốc, lò sứ gốm thời Đường không lớn lắm (thường dài 3 mét, rộng 2 mét), vậy mà đã phải dùng tới gạch chịu lửa để xây cửa đốt và xây ống khói.

Cũng theo tài liệu về khảo cổ học năm 1975 của ông Trần Đình Luyện (Ty Văn hóa Bắc Ninh) cho chúng ta biết thêm về khu lò nung gốm, gạch ở Đông Yên (thuộc phần đất Bắc Ninh, nằm bên bờ sông Ngũ Huyện) vào thời Lê Mạt. Cấu trúc của lò có khác kiểu lò ở Bút Tháp. Đó là lò gốm hình tròn, có đường kính 1,2m, tường lò, đắp đất có lẫn mảnh sành gạch nhỏ, dày 1m, chân tường choãi, bên trên thu nhỏ dần theo kiểu vòm cuốn. Bầu lò được tạo hình phễu, đắp liền với tường lò, cũng bằng đất với bề dày xấp xỉ 0,3m.

Qua khảo cứu, lò gốm ở Đông Yên có phần tiến bộ hơn ở Bút Tháp. Song cứ đọc tuyến tiến triển của các lò gốm qua các thời đại, ta thấy, cho tới đầu thế kỷ XX này, các lò mới được cải tiến một bước lớn. Đó là chuyển hình thức từ đun lò con cóc sang hình thức đun lò rộng nhiều bầu. Chuyển dần thể thức đun tre gỗ, sang đun than và đun dầu. Đó là những bước tiến xa của kĩ nghệ gốm thủ công.

Ngày nay, với kiểu lò gốm hiện đại, người ta đã thiết kế kiểu lò vòng liên hoàn. Đó là một hình thức của lò gạch tiên tiến. Người ta chỉ việc nhóm lò một lần, và ngọn lửa lò cứ cháy truyền từ bầu lò này sang bầu lò kia, ngọn lửa ấy cứ cháy mãi cho tới ngày lò hỏng. Những cải tiến văn minh đó, là khởi nguồn từ chiếc lò gốm cổ thô sơ thuở xưa…

Men gốm thời Lý – Trần

Thời Lý – Trần là thời thịnh vượng của kĩ nghệ làm gốm. Vì thế, men gốm thời Lý – Trần phong phú là điều tất yếu.

Trước thời kỳ này, một số đồ gốm ở dạng gốm mộc, không phủ men, mà được bao ngoài một lớp áo gốm, khâu phủ áo gốm không phải nơi nào cũng làm, nhưng Thổ Hà và Phù Lãng đều có dùng tới áo gốm. Áo gốm là một dung dịch tổng hợp giữa đất và chay, với công thức 4 đất 1 chay. Đất là gốm, giã nhỏ, sàng lọc cẩn thận. Còn chay là một thứ đá có lẫn gỉ sắt ở ngay địa phương. Chay cũng phải giã nhỏ, sàng lọc kỹ càng. Có hai thứ đất và chạy rồi, trộn lẫn, pha nước, hòa tan thành một dung dịch. Tất cả các đồ gốm trước khi đem nung, , được nhúng vào dung dịch này, tạo ra một lớp áo gốm. Nếu cứ thế đem nung lên, là có gốm đẹp rồi. Hoặc giả, muốn phủ men ngoài thì ta phủ men lên lớp áo gốm.

Hãy làm quen với ba loại men gốm tiêu biểu thời Lý – Trần. Đó là gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm hoa lam.

Ấm gốm men ngọc có nắp, chỏm nắp hình búp sen, thân hình quả bưởi, vòi hình đầu chim, quai hình chim vẹt, đế nhỏ để mộc, chiều cao cả nắp 10,5cm, ấm phủ men ngọc màu vàng xám.
Lại có ấm khác tạo dáng như quả bầu lọ, vòi cao, quai hình khuyên dài, đế thấp, đáy tô nâu. Quanh thân khắc các đường chỉ chia múi, men ngọc rạn màu xanh ngả vàng.
Âu men ngọc rạn ngả vàng khác, cao 10cm, đường kính miệng 15,6cm, có dáng đấu gỗ, thành ngoài khắc băng cánh hoa cúc.

Với gốm men ngọc, khi đã có xương gốm tốt, người ta phủ ngoài một lớp men dày màu xanh mát, trong bóng như thủy tinh, do đó mới gọi là gốm men ngọc. Đồ gốm men ngọc Ở ta rất giá trị, được trong và ngoài nước ưa chuộng. Người ta thường sánh gốm men ngọc của ta với đồ gốm Long Tuyền thời Tống Trung Quốc.

Gốm men ngọc thời Lý thường tạo xương gốm mỏng, thanh. Tới thời Trần, thì phần xương gốm chắc, dày hơn. Hoa văn trang trí trên gốm, đa phần là hình tượng hoa sen cách điệu. Ngoài ra còn một số đề tài khác, như trang trí hoa thảo và các hoa dây chạy quanh bình gốm. Có ba hình thức trang trí trên đồ gốm: hoa khắc, hoa in và hoa đắp. Hoa in chìm hoặc đắp nổi thì dùng khuôn, còn hoa khắc thì dùng mũi dao đầu nhọn hoặc một đầu thanh tre vẽ lên xương gốm khi đất còn mềm. Khắc hoa rồi đem nhúng vào men, men đọng lại và tạo ra các hình hoa văn trang trí rất đẹp. Bên cạnh các đồ gốm men ngọc cầu kỳ và tinh xảo đó, người thợ thủ công còn sản xuất một số đồ gốm đại trà, có khi để mộc, có khi phủ lớp men mỏng màu vàng, màu nâu, hoặc màu da lươn mà xỉn màu và ít bóng. Loại gốm này để sử dụng thông dụng và ngay khi nung, người ta nung từng chồng cao. Thời Lý, đồ gốm hầu như không viết chữ. Tới thời Trần, ta thường thấy dưới trên các loại đồ gốm có hàng chữ màu nâu “Thiên Trường phủ chế”.

Bát gốm men ngọc thời Lý, có miệng loe, thành vát, cao 6,7-7,5cm, đường kính miệng 17,2-18,2cm, trong lòng in nổi 2 hình em bé vui đùa trong hoa lá.
Cùng kiểu dáng bát trên, có bát gốm men xanh ngọc ngả vàng thời Trần, cao 6,4cm, đường kính miệng 16,4cm, trong lòng in nổi hoa cúc 3 tầng và 5 dấu kê.

Với gốm hoa nâu, đó là loại gốm đàn, kiểu dáng to, chắc chắn, cốt gốm dày và thô. Bên ngoài có phủ lớp men trắng ngà hoặc vàng nhạt. Gốm hoa nâu xuất hiện vào cuối thời Lý đầu thời Trần.

Liễn có nắp men ngà khắc tô nâu hoa sen và hoa cúc
Liễn men ngà khắc tô nâu hoa sen và chim sẻ
Thạp men trắng khắc nâu cảnh đấu sĩ ra trận

Hình thức trang trí hoa văn trên gốm hoa nâu, thường là hoa dây chạy viền quanh miệng đồ gốm. Đặc biệt, hầu hết các sườn gốm hoa nâu có đắp nổi hình hoa thảo, chim cò, thú bốn chân, hoặc tôm cá… rất sinh động. Các hình rồng trang trí ở gốm hoa nâu thời Trần có khác thời Lý. Đó là mình rồng khỏe mập, uốn khúc thoải mái, khác hẳn con rồng thời Lý thân hình thanh mảnh và uốn khúc gò bó.

Phần dưới chân đèn men trắng ngà vẽ nâu hoa cúc dây, cánh sen.
Phần dưới chân đèn men trắng vẽ nâu dây hoa cúc.
Phần dưới chân đèn men trắng khắc tô nâu hoa cúc dây và lá đề.

Còn gốm hoa lam là tên một loại gốm phủ men trắng đục, vẽ trang trí màu lam. Để có màu men đẹp, điều cần thiết phải có cốt xương gốm tốt. Xem ra, thông thường thì xương gốm là đất sét có pha cát. Nếu gốm cổ, lại pha cả một số tạp chất khác như rơm, rạ, trấu hoặc lá cỏ dại… để tăng độ liên kết.