Hoạ sĩ Phùng Phẩm

Hoạ sĩ Phùng Phẩm. 08/2006

tác giả KERRY NGUYEN-LONG
nguồn Art of Asia
biên tập Tàn Nhang

Nhiều thập kỷ trước, tôi tình cờ bắt gặp một bức tranh in gỗ đen trắng đầy cuốn hút tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, nhưng phải nhiều năm sau tôi mới gặp được Phùng Phẩm, một người đàn ông trầm lặng, đầy nhiệt huyết với nhu cầu thể hiện sáng tạo mãnh liệt. Ông hiện đã bước sang tuổi 90.

Bài viết này chủ yếu dựa trên các cuộc phỏng vấn năm 2006 tại tư gia của ông ở Hà Nội, Việt Nam, được bổ sung bởi thông tin từ các cuộc phỏng vấn công khai của nghệ sĩ tại những triển lãm gần đây. Các tác phẩm được minh họa trong bài là những bức tranh được chụp tại nhà của nghệ sĩ hoặc thuộc sở hữu của các nhà sưu tập đã mua trực tiếp từ ông.

Một số khác đến từ triển lãm hồi cố năm 2023 về các tác phẩm của nghệ sĩ, được trưng bày tại Phòng tranh Thăng Long ở Hà Nội.

Phan Bội Châu (Phan Boi Chau), tranh in gỗ, đen trắng, 34 x 56 cm. Bộ sưu tập Andrew & Ann Proctor
Thiếu nữ và Hoa (Young Maiden with Flowers), 1983, tranh in gỗ, đen trắng, 61 x 52.5 cm. Bộ sưu tập Phòng tranh Thăng Long

Những năm đầu đời đầy biến động của Phùng Phẩm không phải là điều hiếm gặp trong bối cảnh xã hội thời ông lớn lên, nhưng chúng lại góp phần quan trọng trong việc hình thành một con người sâu sắc và nhạy cảm trước những phức tạp của cuộc sống.

Ông sinh năm 1934 trong một gia đình khá giả, là con thứ năm trong chín người con của Phùng Văn Kinh và Đặng Thị Thanh, tại huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Yên (trước thuộc Vĩnh Phúc, nay thuộc Phú Thọ). Những năm học tiểu học, Phẩm sống cùng cô ruột ở Sơn Tây. Nhưng cuộc cách mạng nổ ra vào khoảng 1943–1944, rồi khi ánh hào quang của Nhật Bản lụi tàn năm 1945, Việt Minh đã tiến vào làng của ông. Cậu bé Phùng Phẩm khi đó vừa chứng kiến vừa trực tiếp tham gia các cuộc biểu tình. Khi chiến sự lan rộng từ Hà Nội đến Việt Trì, người Pháp bắt đầu tấn công Việt Minh. Phùng Phẩm tham gia Phòng Thông tin ở tỉnh Vĩnh Yên, góp phần viết các khẩu hiệu trên tường như: “Chúng ta phải thắng”, “Kẻ thù phải thua”, “Cuộc chiến lâu dài phải thành công”. Đó là một thời kỳ bừng lên sức trẻ và tràn đầy năng lượng.

Thiếu nữ Hà Nội (Hanoi Maiden), tranh in gỗ, đen trắng, 73 x 58 cm. Bộ sưu tập N.K. Long

Năm 1947, khi mới 13 tuổi, Phẩm rời quê lên căn cứ kháng chiến ở Việt Bắc, phía bắc Hà Nội. Trong suốt năm năm tiếp theo, ông di chuyển qua năm tỉnh, đảm nhận nhiều công việc khác nhau để phục vụ kháng chiến. Đến năm 1951, ông được cử sang Quế Lâm, miền nam Trung Quốc, theo học ngành sư phạm tại một trong những ngôi trường quy tụ hàng nghìn học sinh Việt Nam. Tại đây, ông gặp Nguyễn Khang (1916–1989), họa sĩ và nhà giáo. Chính cuộc gặp gỡ này đã mở ra trong Phẩm khao khát trở thành một nghệ sĩ.

Sau khi Hà Nội được giải phóng năm 1954, ông trở về và làm việc cho Sở Văn hóa tỉnh Hải Dương. Công việc của ông là giảng dạy các khóa học đồ họa ngắn hạn, kéo dài một tháng, chủ yếu dành cho cán bộ các xã và huyện. Ngoài giờ, ông vẽ tranh tường, dù luôn phải chật vật vì thiếu thốn vật liệu mỹ thuật. “Những ngày ấy như một huyền thoại. Chúng không còn tồn tại nữa,” ông hồi tưởng.

Ngày chủ nhật (Sunday), 2010, sơn mài, 120 x 160 cm. Bộ sưu tập Phòng tranh Thăng Long
Bên hoa huệ (Beside the Lilies), 2008, sơn mài coromandel, 120 x 80 cm. Bộ sưu tập Phòng tranh Thăng Long

Trong giai đoạn 1955–1956, công việc đưa Phẩm đến tỉnh Hà Tây, nơi ông tham gia giảng dạy đồ họa trong chương trình cải cách giáo dục. Thế nhưng, vào thời gian rảnh, ông lại cẩn thận gói ghém những tác phẩm của mình, rồi đạp xe về Hà Nội để mang chúng đến trình bày cho các họa sĩ Sỹ Ngọc (1919–1990) và Diệp Minh Châu (1919–khoảng 2003), khi đó đang giảng dạy tại Trường Mỹ thuật vừa được mở lại. Phẩm khao khát được biết tranh của mình sẽ được nhìn nhận thế nào so với tác phẩm của các học trò của họ.

Ông kể rằng những ảnh hưởng nghệ thuật ban đầu đến từ Nguyễn Phan Chánh (1892–1984), Trần Văn Cẩn (1910–1994) và Thang Trần Phềnh (1895–1972). Tuy nhiên, kiến thức về đồ họa mới là nền tảng định hình mạnh mẽ nhất, và sau này, sự tiếp xúc với chủ nghĩa Lập thể cũng để lại dấu ấn sâu sắc. Chính sự kết hợp của những ảnh hưởng ấy đã đem lại sức sống mãnh liệt cho tác phẩm của ông. Bên cạnh đó, ảnh hưởng Nhật Bản cũng hiện rõ trong cách ông khắc họa một số đường nét khuôn mặt và kiểu tóc.

Điều đáng chú ý là ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực xã hội trong tranh của ông chỉ dừng lại ở việc khắc họa hình ảnh người lao động Việt Nam, như sẽ thấy ở phần sau. Phẩm chia sẻ rằng mục tiêu của ông là tạo ra những tác phẩm dễ hiểu, giàu sức gợi thị giác. Ông không tìm đến những đường nét mềm mại, trữ tình hay bảng màu dịu nhẹ, mà hướng đến sự trực diện và tác động mạnh mẽ.

Mãi đến năm 1968, gần mười năm sau, Phẩm mới có cơ hội học tập nghệ thuật một cách chính quy khi ghi danh vào Đại học Mỹ thuật Hà Nội, theo học chương trình bốn năm. Khóa học gồm hai năm đại cương và hai năm chuyên ngành. Thời điểm này, kỷ luật đảng và lý lịch cá nhân đã trở thành mối bận tâm lớn của nhà nước, khiến sự sáng tạo bị gò bó trong khuôn khổ chính thống. Cũng trong năm ấy, Mỹ bắt đầu chiến dịch ném bom miền Bắc, buộc Hà Nội phải sơ tán. “Hiếm có học sinh nào phải chịu đựng như thời kỳ đó,” Phẩm nhớ lại. Các lớp học được dời lên Thái Nguyên, nơi ông đã hoàn thành 2 năm đại cương.

Ông đang háo hức chuẩn bị bước vào giai đoạn chuyên ngành thì bất ngờ tất cả sụp đổ: việc học bị gián đoạn, không có chuyên ngành, cũng chẳng có lễ tốt nghiệp. Phẩm hiếm khi nhắc lại quãng đời này, nhưng khát vọng trở thành nghệ sĩ của ông thì chưa bao giờ lung lay. Ông trở lại Hà Nội, tìm được công việc tại Trung tâm Hoạt hình Điện ảnh, nơi ông gắn bó 10 năm. Một số sáng tác của ông ở giai đoạn này vẫn còn lưu lại. Nhớ về cuộc sống khi đó, ông kể: “…cuộc sống xoay quanh một bát cơm, và người ta chỉ đơn giản là phải chịu đựng.” Lúc ấy, ông 36 tuổi, chưa lập gia đình và cũng chưa nhìn thấy triển vọng nào cho tương lai.

Đây là thời kỳ Phẩm trải qua một cuộc tự vấn sâu sắc, đồng thời cảm nhận trong mình một nguồn năng lượng sáng tạo bùng nổ nhưng chưa có phương tiện để bộc lộ. Dẫu vậy, tinh thần sáng tạo ấy vẫn không bị dập tắt. Chính sự bùng phát muộn màng này đã dẫn đến những sáng tác dữ dội, khai phá những chủ đề phức tạp, đôi khi chạm đến điều cấm kỵ. Tranh của ông xoay quanh phụ nữ, tình yêu thể xác, chiến tranh và hệ lụy, các vấn đề xã hội, đặc biệt là thân phận người lao động, song ông cũng không quên ký ức tuổi trẻ đầy ấn tượng bên cạnh các cộng đồng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, ông còn mạo hiểm với những diễn giải rất riêng về thần thoại và truyền thuyết.

Chải tóc (Combing Hair), 2013, sơn mài, 120 x 80 cm. Bộ sưu tập Phòng tranh Thăng Long
Tự hào 2 (Proud 2), tranh in gỗ, đen trắng, 84 x 50 cm. Bộ sưu tập N.K. Long

Năm 1971, Phẩm kết hôn với Nguyễn Thị Hảo. Cũng trong năm đó, ông thực hiện bức tranh in gỗ đầu tiên, Nước bạc cơm vàng (Hôm nay nước bạc, mai sau cơm vàng). Hôn nhân phần nào làm dịu đi những nỗi đau tinh thần, nhưng đồng thời lại mang đến những khó khăn thực tế mới. Ông nay đã có gia đình, và chẳng bao lâu sau là hai cậu con trai nhỏ. “Chiến tranh là thời kỳ khó khăn nhất… để nuôi con,” ông nhớ lại. Khi trở về nhà sau giờ làm, cũng là lúc vợ ông bắt đầu ca làm việc, và việc chăm sóc con cái đặt lên vai ông. “Thời gian đâu để vẽ?” – ông tự hỏi.

Trong những năm đầu, Phẩm gắn bó với tranh in gỗ, một chất liệu truyền thống vừa quen thuộc, vừa dễ kiếm lại có giá thành phải chăng. Trong nhiều thập kỷ tiếp theo, ông đã tạo dựng được một loạt tác phẩm sâu sắc và giàu chất thơ, đánh dấu giai đoạn bùng nổ sáng tạo của mình.

Trong bức chân dung Phan Bội Châu, hình ảnh người anh hùng với bộ râu rậm và cặp kính gọng tròn hiện lên trên nền đen trống trải. Đối diện với gương mặt ấy là một sợi dây căng thẳng, biểu tượng cho những giằng co đang bao trùm đất nước lúc bấy giờ. Chỉ với một thủ pháp tối giản, ông đã tạo nên sức gợi mạnh mẽ, truyền tải thông điệp bằng sự tiết chế hình ảnh đầy ấn tượng.

Tay nghề điêu luyện của Phẩm thể hiện rõ trong cách ông xử lý không gian, sử dụng những đường nét dứt khoát, hoa văn phong phú và các mảng tương phản mạnh. Với tranh in gỗ, ông dành trọn cho sắc đen trắng – thứ mà ông nói là “nằm trong máu” của mình – như ta thấy trong Phan Bội Châu hay Vườn xuân. Khi chuyển sang sơn mài, ông khai thác sức mạnh của màu sắc, đặc biệt yêu thích những gam đỏ và vàng ấm áp trên nền tối, dù đôi khi vẫn kết hợp cùng đen trắng.

Không chỉ thành công với các tác phẩm đen trắng, khả năng sử dụng màu sắc của Phẩm cũng vô cùng cuốn hút. Trong bức sơn mài Chải tóc (2013), sự táo bạo của bảng màu được thể hiện rõ: trên nền đỏ rực rỡ, hình ảnh một người phụ nữ ngồi trên chiếc ghế gỗ xanh đậm điểm vàng, với dáng vẻ e lệ dường như bị gạt bỏ. Chính cách sử dụng bảng màu giới hạn nhưng tinh tế đã thổi vào tác phẩm sức sống và sự tươi mới đặc biệt – như trong chi tiết đôi môi đỏ nổi bật, trở thành điểm nhấn đầy sức gợi.

Hết lần này đến lần khác, Phẩm đắm mình trong một chủ đề, để mặc nó thấm đẫm trong dòng chảy sáng tạo của ông. Chủ đề gội đầu xuất hiện sớm trong bức in gỗ Quê mới (New Homeland) – một tác phẩm chưa được minh họa. Bức tranh khắc họa ngôi làng dưới ánh trăng, phía sau những mái nhà và hàng rào tre. Ở một góc tối nhưng được ánh trăng rọi chiếu, nơi góc phải bố cục, một người phụ nữ khỏa thân cúi mình bên chậu rửa, mái tóc dài buông xuống cạnh chiếc vò sành – một hình ảnh thoáng qua mà ám ảnh.

Trong Sau bức rèm (Behind the Screen) và một bức khác cũng mang tên Gội đầu (Washing Hair), chịu ảnh hưởng rõ rệt từ mỹ thuật Nhật Bản, hình tượng người phụ nữ chiếm trọn không gian của bức in gỗ, trong khi các chi tiết xung quanh được gia tăng sức nặng bằng những đường nét mạnh mẽ. Sau đó, chủ đề này lại được tái hiện trong sơn mài với bảng màu đen – vàng, vẫn dưới tên Gội đầu.

Sau bức rèm (Behind the Screen), 2004, tranh in gỗ, đen trắng, 57 x 39 cm. Bộ sưu tập N.K. Long

Sức mạnh của Phẩm còn được thể hiện rõ trong loạt tranh khắc họa những cô gái thành thị. Trên đó là sự bùng nổ của kết cấu và hoa văn trong một ngôn ngữ trang trí phong phú: trải rộng từ trang phục, mặt bàn, khăn trải, bình hoa, rèm cửa cho đến chiếc ghế. Những cô gái mặc áo dài hoặc trang phục hiện đại với quần tây, áo sơ mi, mái tóc búi cao hay cắt ngắn, đôi tay thon dài, móng tay chăm chút – tất cả hiện lên rực rỡ và cuốn hút. Họ ngồi trên những chiếc ghế lưng cao, trầm tư, bận rộn hong tóc, chải tóc; hoặc với sự tự tin đầy ý thức, họ nghiêng mình qua bàn để sắp xếp một bông huệ trong bình. Đôi khi, họ phô bày bản thân với chút gì đó khiêu khích.

Trong Trang điểm (Make-up), trên nền đen, một cô gái thời thượng duyên dáng mải mê đùa giỡn cùng hình ảnh phản chiếu trong chiếc gương cầm tay. Khi được hỏi về nguồn cảm hứng cho dàn phụ nữ nổi bật ấy, Phẩm cho biết trí tưởng tượng đóng vai trò lớn hơn bất kỳ hình mẫu đời thực nào. Thế nhưng, nếu chỉ là tưởng tượng, nhiều nhân vật lại mang nét giống vợ ông một cách kỳ lạ – từ vóc dáng cho đến gương mặt. Ông thừa nhận rằng bản thân đặc biệt say mê khi làm việc với đề tài này, và có thể nói đây chính là chủ đề duy nhất trong giai đoạn trưởng thành của ông mang hơi thở dịu dàng của đời sống.

Trang điểm (Make-up), 2003, tranh in gỗ, đen trắng, 62 x 42 cm

Trong bức tranh in gỗ Tự hào (Proud), Phẩm khắc họa một người phụ nữ dân tộc Thái với phong thái và đôi bàn tay được chăm chút tinh tế chẳng khác gì một cô gái thành thị. Đây là cách tiếp cận khác thường, bởi đa số họa sĩ Việt Nam thường vẽ phụ nữ dân tộc thiểu số trong chính bối cảnh văn hóa bản địa của họ. Dẫu vậy, cũng như nhiều tác phẩm trước, Phẩm vẫn dựa trên những ký ức sâu đậm từ quãng thời gian sống ở vùng Tây Bắc giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số. Chỉ khác rằng trong trường hợp này, hình ảnh ấy được rút ra trực tiếp từ trí tưởng tượng phong phú của ông, trở thành một biểu tượng độc đáo.

Mãi đến đầu thập niên 1990, khi hoàn cảnh gia đình cho phép, ông mới chuyển sang thử nghiệm với chất liệu sơn mài. Để làm chủ kỹ thuật này, ông tìm đến một người thợ thủ công đồng thời là thầy dạy. Tiến bộ của ông nhanh đến mức chẳng bao lâu sau, ông có thể làm việc song song với cả tranh in gỗ và sơn mài. Từ năm 2003, ông tiếp tục bổ sung thêm kỹ thuật sơn khắc (coromandel), để rồi làm việc đồng thời với cả ba chất liệu.

Giữa tranh in gỗ và sơn khắc coromandel có những điểm tương đồng về kỹ thuật, đặc biệt trong thao tác khắc. Tuy nhiên, tranh in gỗ có thể đạt độ chi tiết cao hơn nhiều, trong khi sơn mài coromandel lại khó nhằn hơn: chất liệu cứng, các lớp sơn mài phải phủ thật dày để có thể khắc mà không thủng nền, và luôn tiềm ẩn nguy cơ nứt vỡ. Chính vì vậy, sự cẩn trọng tuyệt đối là điều bắt buộc. Sau khi khắc, các mảng được tô màu bằng sơn acrylic – như trong Bên hoa huệ (Beside the Lilies).

Chống hạn (Fighting Against Drought), sáng tác năm 1990, là một trong những bức sơn mài đầu tiên của Phẩm. Ngay trong năm ấy, tác phẩm đã giành huy chương vàng tại Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc. Những chiếc nón của phụ nữ trong tranh, được dát vỏ trứng, tỏa sáng lung linh trên nền tối. Sau này, ông từ bỏ việc dùng vỏ trứng, thay vào đó ưa chuộng…