Nguyễn Gia Trí (năm 1939 – 1944)

Những cảm nhận của hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung về người đồng nghiệp

tác giả Nguyễn Đỗ Cung
nguồn Kỷ yếu bảo tàng Mỹ Thuật năm 1991
ảnh Anh Nguyên

P/S: do nội dung xuất bản năm 1991 nên vị trí và tên khu vực (phòng) trưng bày có thể đã khác so với thời điểm hiện tại.

Phòng Triển lãm của Phòng Thông tin. Cùng với mấy tấm tranh sơn dửa mới xong gần đây, họa sĩ Nguyễn Gia Trí có bày một bức sơn dửa xong từ năm 1939. 5 năm, 1939 – 1944. Một kết quả làm ta ngạc nhiên.

Sơn dửa ngày nay gọi là sơn mài. Thuật ngữ mỹ thuật quen gọi trước cách mạng, cũng là thời kỳ đầu, sơ khởi, sơn mài Việt Nam chính thức bước vào “hội họa giá vẽ” (peinture chevalet).

Chất sơn dửa đủ bắt đầu nhắc cánh. Tôi muốn nhận thấy cái sinh lực đầu mối của sự tiến hóa đó.

Đen, đỏ, vàng. Với những màu hơn kém nhau chút ít của nghề sơn, họa sĩ đã cho ta một cuộc sống mà sự giàu sang tương tự như cuộc sống thực của ta.

Sự tạo tác bao giờ cũng đẹp.

Tác phẩm bao gồm 8 tấm vóc ghép lại thành “Bình phong”. Mặt thứ nhất của bình phong thể hiện bức tranh “Thiếu nữ trong vườn”. Mặt thứ hai thể hiện bức tranh “Phong cảnh” (còn được gọi là Dọc mùng). Mỗi tranh là một tác phẩm hội họa độc lập nhưng hợp lại thành tổng thể thống nhất về phong cách nghệ thuật đặc trưng của Nguyễn Gia Trí.

Còn gì khô sượng bằng vỏ trứng gà giữa mấy màu đen, đỏ. Vỏ trứng đó đã thành ánh sáng nhễ nhại và huyền diệu trên thân thể của một thiếu nữ mặc áo đỏ trên một bức sơn. Giữa một cảnh lộng lẫy, thiếu nữ đó đã tưng bừng đi ra cũng mặc áo xám xanh.

Áo xám xanh này chỉ có sơn đen và vỏ trứng gà.

Không còn có thể nghĩ đến sự đưa đám ở họa sĩ. Những hình thù thốt ra đanh thép như vẫn sống như vậy từ bao giờ, giản dị và bền bỉ như những vật thiên nhiên. Kết quả của sự nghỉ và kinh nghiệm.

Một phần lớn mặt sau bức “Bình Phong”
Một phần mặt sau bức “Bình Phong”

Tôi thử so sánh hai cái bóng nước: một cái bóng nước trên bức bình phong treo trong cùng buồng triển lãm; cái nữa trên tấm tranh sơn tôi vừa nói đến ở trên. Bức trong còn gần sự thực trông thấy. Mà ở bức ngoài mới là kỳ thú, phóng khoáng, linh động, giàu mạnh và rực rỡ. Bức trong còn nhút nhát làm từ 1939. Bức ngoài mới xong gần đây. Bức trong gợi hình ảnh một bức thủy mạc. Bức ngoài mới là bằng sơn dửa, hợp lý và quên sống tự nhiên.

Người ta đã quên chất sơn, quên đầu đề, quên hết để mà tưởng được sống giàu sang cảnh họa sĩ Nguyễn Gia Trí. Nhưng có thể nào đầu mối sự huyền diệu đó không khởi sự trong lòng họa sĩ? Hơn cả, tôi thấy mê mẩn trước một bức tranh điều hợp phác bằng sơn bột. Bức này treo chỗ thoạt vào phía tay trái, sau hai bức phỏng họa.

Một cuộc lộng vũ có chừng mực.

Ở đây lại phảng phất một mối yêu đương chung gì, yêu đương huy hoàng mà hàng ngày tôi cảm ơn. Thiêng liêng tuyệt đối vẫn cho tôi hưởng trong cuộc sống. Nên tôi phải cảm ơn anh. Anh gợi lên cho tôi phong phú và rõ rệt. Anh đã nói thực, vì đã nghe mãnh liệt. Bằng tin tưởng sung sướng, tôi bay theo, tuy, cũng đã như họa sĩ, anh dùng rất nhiều cung bậc, tuy người bay trước tôi thật kỳ dị và thông thái.

Nhưng dù thông thái thế nào, anh cũng đã cố gắng, nên tôi mới không thể nào cường nổi mà không tin ở anh. Sung sướng, tôi thấy cả tôi.


Nguyễn Gia Trí sinh năm 1908 tại Chương Mỹ, Hà Nội, tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1936. Ông là một trong Tứ kiệt của hội họa Việt Nam: “nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn”. Ông tổ chức những sự kiện triển lãm đầu tiên năm 1939 – 1940.

Nguyễn Gia Trí được xem là một trong những họa sĩ đi đầu trong việc tạo dựng khuynh hướng mới của nghệ thuật sơn mài. Ông góp phần đưa sơn mài Việt Nam lên đỉnh cao với sự kết hợp giữa yếu tố văn hóa truyền thống Á Đông của người Việt Nam trên chất liệu sơn ta và phương pháp hội họa hàn lâm phương Tây. Ông mất tại TP HCM năm 1993.