Tính dân tộc trong tranh và tượng cổ Việt Nam

Tác giả
Nhà nghiên cứu mỹ thuật
CHU QUANG TRỨ

Ảnh

Tổng hợp & Biên tập
Anh Nguyên

Chúng ta đều là người Việt Nam, nhưng không phải ai cũng hiểu đầy đủ tâm hồn Việt vì đó là nét sâu sắc chi phối lối suy nghĩ và cách diễn đạt của người nghệ sĩ tạo hình trong tác phẩm của mình. “Tâm hồn Việt Nam” tuy không phải là cái có thể sờ thấy, nhưng có thể cảm thấy được, nó hình thành trong sự cố kết của các tế bào trong đại gia đình Việt Nam từ hồi dựng nước, rồi trải qua suốt hơn 4.000 năm giữ nước và phát triển cho đến tận ngày nay.

Trong kho tàng vốn cũ nghệ thuật tạo hình dân tộc, tranh tết làng Hồ là một trong những loại đậm đà tính dân tộc. Nhưng nếu họa sĩ nào đó bây giờ cũng cho nhân vật của mình được thể hiện đúng theo lối của nghệ nhân làng Hồ, cũng dùng đúng những kỹ thuật nguyên xi như ở tranh Tết làng Hồ… thì dù tranh ấy có thành công hay không, ta thấy ngay rằng cái áo dân tộc mà nó cố khoác lấy để làm ra vẻ có tính dân tộc, vẫn cứ không hợp với con người hiện đại mà họa sĩ chọn làm đối tượng diễn tả. Nhân dân ta dù không mặc áo dài thâm, búi tóc củ hành, đội khăn xếp, đi ô như trước kia nữa, nhưng vẫn cứ là người Việt Nam. Rõ ràng tính dân tộc không chỉ cần khoác cái áo xưa của dân tộc, giữ một số nét nào đó về hình thức và về cách thức biểu hiện. Vấn đề là phải đi vào thực tế, đến những mũi nhọn của cuộc sống để tìm “tâm hồn Việt Nam” thì mới có được tính dân tộc.

Ta nhớ ta là người Việt Nam, lịch sử 4.000 năm đã tạo nên ta. Ta lại đang sống ở nửa thế kỷ XXI đầy những chuyển biến thần kỳ. Vì vậy, tính dân tộc không chỉ ở “tâm hồn Việt Nam” chung chung, mà phải là tâm hồn Việt Nam mang theo tâm hồn thời đại. Trước hết là tâm hồn Việt Nam, vì thế ta phải bắt nguồn từ vốn cũ nghệ thuật tạo, hình những thành quả của lớp nghệ sĩ cha ông thuộc nhiều thế hệ trước. Nắm được vốn cũ rồi ta sẽ đổi mới, cũng tức là nâng cao kịp với tâm hồn thời đại.

Trong vốn cũ từ nhiều thế kỷ trước, luôn thấy tính dân tộc biểu hiện trong các hình thái khác nhau. Ở những thế kỷ thuộc giai đoạn đầu của thời kỳ độc lập (thế kỷ XI− XII – XIII và đầu XIV) là lúc giai cấp thống trị có vai trò lịch sử của nó, lợi ích về nhiều mặt còn phù hợp với lợi ích của quần chúng bị trị, nên mâu thuẫn chủ yếu lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa cả dân tộc với giặc ngoại xâm. Điều đó đã làm nên sức mạnh của Nhà nước Đại Việt đánh thẳng quân Tống, rồi thắng luôn quân Nguyên – một đế quốc phong kiến đang có tham vọng làm bá chủ thế giới ở thế kỷ XIII. Vì vậy, trong nghệ thuật thời đại ấy, ta luôn thấy sự gặp gỡ của cả dân tộc trong một ước vọng chung là nghệ thuật Phật giáo – một tôn giáo của lòng từ bi, bác ái khích lệ tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Ta thấy ở chùa Tháp và đôi khi ở cả lăng mộ của quý tộc những hình mẫu nghệ thuật rất lạc quan yêu đời, tự tin và tự cường cao độ, những hình mẫu nghệ thuật trau chuốt và hoàn chỉnh đạt tới đỉnh cao.

Phật A-di-đà chùa Phật tích, những dàn nhạc ở chân cột chùa Phật tích và ở cốn gỗ chùa Thái Lạc… đều đạt tới mức hoàn chỉnh. Những hình hổ đá lăng Trần Thủ Độ, trâu đá và chó đá khu lăng nhà Trần ở An sinh… có cái đẹp thật khỏe mập và hiện thực mà ngày nay còn thu hút mỹ cảm mọi người.

Nhưng xã hội phong kiến Việt Nam phát triển sang một giai đoạn mới, từ nửa cuối thế kỷ XIV, mâu thuẫn chủ yếu trở thành mâu thuẫn giữa những người bị trị và giai cấp thống trị. Trong nghệ thuật tạo hình, hai dòng chính thống và dân gian ngày càng tách riêng ra rõ rệt. Trong dòng nghệ thuật chính thống của giai cấp thống trị tuy không có nhiều sức sống, nhưng một số tác phẩm cũng phần nào mang theo cái hồn dân tộc, cái thẩm mỹ Việt Nam và do đó có tính dân tộc. Nhưng tính dân tộc thể hiện đậm đà hơn là ở những tác phẩm thuộc dòng nghệ thuật dân gian. Những chạm lộng trong nhiều đình thuộc thế kỷ XVI và nửa cuối thế kỷ XVII sang đầu thế kỷ XVIII thể hiện rất rõ xã hội Việt Nam và con người Việt Nam.

Kỷ cương phong kiến thật là nghiệt ngã với tôn ti trật tự khắt khe “quốc quân thần, gia phụ tử”, ràng buộc người phụ nữ trong gông “tam tòng”, cấm đoán “nam nữ thụ thụ bất thân”… Nhưng người lao động Việt Nam vứt bỏ tất cả cái kỷ cương ấy, họ tự tạo cho mình một thứ đạo lý đầy tình thương và lòng nhân từ biểu hiện tâm hồn dân tộc. “Phép vua thua lệ làng” nên những ngôi đình làng của thời xa xăm ấy còn kể lại với chúng ta rằng nhiều hình mẫu nghệ thuật mang theo “tâm hồn Việt Nam” tươi mát. Nếu trong văn học, con rồng mất hẳn sự linh thiêng, “vừa đi vừa đái vẽ nên rồng”, thì ở đình làng luôn thấy “rồng đàn”, “rồng ổ”, mẹ con lúc nhúc như bầy gà bầy lợn, rồng còn chơi thân với những con vật thật sự bình dân như thạch sùng, lợn, khỉ, chó… Nhiều hơn cả vẫn là hình người. Con người trở thành trung tâm của nghệ thuật, đặc biệt là người lao động luôn được thể hiện hồn nhiên nhất, yêu đời nhất. Những đôi trai gái ở lứa tuổi yêu đương đàng hoàng tình tự, những cặp vợ chồng bình đẳng âu yếm nhau, bà mẹ trìu mến săn sóc bầy con…, những cảnh lao động cực nhọc nhưng nhờ tự giác mà khi đi vào nghệ thuật thật sảng khoái: bác nông dân cày ruộng thảnh thơi, lão tiều phu đốn củi hỉ hả, những anh thợ săn không nề nguy hiểm luôn giành được thành quả mỹ mãn, những trai làng đấu vật và bơi thuyền thật là hào hứng, và đặc biệt những cô gái diện đẹp như tiên lúc nào cũng sôi nổi trong nhiều điệu múa thướt tha với thân hình uyển chuyển và bàn tay mềm mại… Tất cả toát lên chất Việt Nam phơi phới. Hình chạm không cầu kỳ, không tỉa gọt tỉ mỉ, nhưng đầy sức sống, có sức thu hút mọi người mạnh mẽ. “Tâm hồn Việt Nam” mà các nghệ sĩ xưa có được đã chuyền động trong từng nhát đục và thớ gỗ, khiến tác phẩm của mình luôn mang màu sắc dân tộc rõ nét.

Chi tiết con rồng và con thạch sùng chung một khuôn hình tại Đình Thuỵ Phiêu (Hà Nội). Ảnh: Triệu Chiến

Thành công cao nhất của tượng tròn xưa phải là những pho vị Tổ ở chùa Tây Phương. Các Tổ ấy đều có nguồn gốc nước ngoài, nhưng ở đây sao nó gần gũi, thân thuộc và đậm đã tính Việt Nam. Tác giả của những pho tượng ấy là công dân của nước Việt Nam do người nông dân và anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ lãnh đạo. Thời đại “Năm ngày rung chuyển phương Đông” đã cho họ những hứng thú nghệ thuật, giúp họ tìm ra cái “hồn Việt Nam để tạo nên chất sống cho tác phẩm là tính dân tộc.

Nghệ thuật phương Tây từ thời Phục Hưng được quy định chặt chẽ bởi luật sáng tối và xa gần, nhân vật trong tranh và tượng được nghiên cứu giải phẫu tường tận… Đó là một bước tiến lớn trên đường phát triển nghệ thuật tạo hình của họ. Có người ngợp trong nghệ thuật phương Tây, nhìn đến những tác phẩm của cha ông để lại, họ dè bỉu chê nghệ thuật cũ của ta là tùy tiện, không có khoa học! Không, tranh và tượng xưa của dân tộc ta không tùy tiện, không trái với khoa học. Ta có cách và quy luật riêng của ta. Khoa học là tổng kết từ thực tế. Khoa học trong tranh và tượng phương Tây là tổng kết từ thực tế xã hội và văn hóa phương Tây. Còn khoa học trong tranh và tượng của chúng ta phải là tổng kết từ thực tế xã hội và văn hóa của chúng ta. Ta phải nắm được cái quy luật, cái khoa học của vốn nghệ thuật tạo hình của ta và của thế giới thì mới nắm được cái “hồn Việt Nam” xưa đề rồi nâng lên theo thời đại mà ta đang sống. Tranh và tượng của ta xưa rất chú ý đến cái thực, cái thuộc về sản xuất của vấn đề, của con người, trong đó rất chú ý đến phần tình cảm, phần tâm hồn. Hình thức là để nhấn mạnh nội dung, làm tôn nội dung lên. Con hổ ở lăng Trần Thủ Độ có đường gờ sống lưng và cái đuôi được cách điệu, thành khối vuông dài và góc cạnh hẳn hoi. Sự cách điệu đến mức làm cho nó xa hẳn sự thực, nhưng lại tôn cái khỏe mập trong bản thân con hổ mà nghệ sĩ mong muốn. Hay như những bức chạm trên gỗ ở các đình chùa cũ, hình người chỉ đục nhanh bởi mấy nhát, tỷ lệ giữa các bộ phận không cân xứng, thường đầu bao giờ cũng to vượt lên so với toàn thân, nhưng chính điều đó lại làm rõ cái tầm lớn trong tư tưởng và tình cảm nhân vật.

Hình tượng đánh cờ trong điêu khắc gỗ Đình Hạ Hiệp (Hà Nội). Ảnh: Triệu Chiến

Đó cũng là những tác phẩm mà người nghệ sĩ không chiều theo cái thị hiếu kệch cỡm của giai cấp thống trị, mà là những tác phẩm người nghệ sĩ cảm thấy làm việc cho mình, làm việc cho những người thân của mình. Họ được tự do sáng tạo hình tượng, được gửi gắm vào trong tác phẩm những điều mà mình mong muốn hoặc là những ước vọng của xã hội mà mình thâu thái được. Ở những tác phẩm đạt được tính dân tộc rõ nét ấy, kỹ thuật chỉ đóng vai trò phù trợ, nên có lúc người ta chạm tỉa chau chuốt như số đông hình mẫu ở thời Lý (thế kỷ XI− XII) số ít hình mẫu ở thời Hậu Lê (thế kỷ XVII− XVIII) và thời Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII), nhưng có lúc lại đục, chạm sơ sài chỉ mấy nhát mạnh tay như nhiều hình còn lại trong các hình thời Mạc (thế kỷ XVI) và cuối thời Lê Trung hưng (nửa sau thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII) hay như tranh làng Hồ.

Điêu khắc gỗ trong Đình Cam Đà (Hà Nội). Ảnh: Triệu Chiến

Nắm được vốn xưa, thâu thái được tinh thần thời đại, tức nghệ sĩ đã chộp được cái hồn dân tộc. Và khi đó chúng ta không sợ hình thức, cũng không nệ ở chất liệu và kỹ thuật. Trong kho tàng vốn cũ, phần lớn điêu khắc bằng gỗ, số khác bằng đá. Những tranh xưa nhất còn giữ đến ngày nay là những hình vẽ màu trên gỗ ở đình Cam Đà (Hà Tây xưa) và đình Lâu Thượng (Vĩnh Phúc). Tranh thờ thuộc thế kỷ XVIII hoặc đầu XIX ở đền Độc Lôi và chùa Ngang (Nghệ An) đều có sọc chàm ở diềm. Tranh tết làng Hồ đều vẽ trên giấy dó… Những chất liệu ấy là thứ sẵn có ở nước ta. Nghệ sĩ với bàn tay thuần thục đã sai khiến nguyên liệu theo ý mình để tạo ra những tác phẩm thành công. Ngày nay nghệ sĩ không bỏ mình trong số chất liệu mà cha ông từng biết, chúng ta có thêm thuốc màu hóa học, có nhiều thứ màu sơn mài, lại có cả sơn dầu, đặc biệt có thạch cao trong việc làm tượng.

Thực tế cho hay những tác phẩm nghệ thuật thành công, có tính dân tộc không phải chỉ những tác phẩm sử dụng chất liệu cha ông đã dùng, ta thấy có cả những tác phẩm sử dụng chất liệu mà ngày trước cha ông chưa hề biết đến. Rõ ràng tính dân tộc không phải ở vấn đề chất liệu. Sự thành công trong tác phẩm tạo hình, có khi ở những nghệ sĩ lão luyện lâu năm trong nghề, có khi ở những nghệ sĩ mới bước vào nghề, thậm chí ở những người lao động vẽ tranh nghiệp dư, có khi ở những em thiếu nhi chưa biết mấy về kỹ thuật… điều đó chẳng đã nói lên rằng” Vấn đề không phải ở kỹ thuật, không phải dùng kỹ thuật để tạo ra cái thể Việt Nam, sáng tạo nghệ thuật phải bằng xúc động thực sự, xúc động sâu sắc trước cuộc sống, yêu say đề tài mà mình ôm ấp. Chỉ có thế mới tìm ra cái hồn Việt Nam ở thời đại này, để rồi tác phẩm mới toát lên được tính dân tộc. Học ở trường chính quy, ta nắm được lối diễn tả và bố cục của thế giới, nhưng cũng rất cần học ở các nghệ nhân dân gian, ở các hình mẫu trong đình chùa xưa để biết được cách thể hiện và sắp xếp quen thuộc của dân tộc, để tác phẩm có cái đẹp vừa hiện đại vừa hợp với thẩm mỹ được dân tộc chọn lọc qua nhiều thời đại.